DỰ THẢO TỜ TRÌNH, QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ BAN HÀNH CHUẨN NGHÈO GIAI ĐOẠN 2021-2025, LẤY Ý KIẾN THAM GIA CỦA CÁC SỞ NGÀNH, ĐỊA PHƯƠNG

Ngày xuất bản: 25/05/2020 3:24:00 CH
Lượt đọc: 374

 

 

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ        ___________


Số:           /2020/QĐ-TTg

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

____________________________________
Hà Nội, ngày       tháng     năm 2020


DỰ THẢO

 

QUYẾT ĐỊNH

Về việc ban hành chuẩn nghèo đa chiều quốc gia

áp dụng cho giai đoạn 2021 - 2025

__________

 

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 06 năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số …/NQ-CP ngày … tháng … năm …  của Chính phủ;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,

Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn nghèo đa chiều quốc gia áp dụng cho giai đoạn 2021 -2025.

 Điều 1. Các tiêu chí đo lường nghèo đa chiều quốc gia áp dụng cho giai đoạn 2021-2025

1. Tiêu chí về thu nhập: 1.500.000 đồng/người/tháng khu vực nông thôn và 2.000.000 đồng/người/tháng khu vực thành thị.

2. Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản

a) Các dịch vụ xã hội cơ bản (06 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sinh hoạt và vệ sinh; thông tin; việc làm.

b) Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản (12 chỉ số): dinh dưỡng; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục, đào tạo của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt an toàn; nhà tiêu hợp vệ sinh; tiếp cận thông tin; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin và sử dụng dịch vụ viễn thông; tiếp cận việc làm; người phụ thuộc trong hộ gia đình.

Điều 2. Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2021 - 2025

1. Hộ nghèo

a) Khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.500.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

b) Khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

2. Hộ cận nghèo

a) Khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.500.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản.

b) Khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản.

3. Hộ có mức sống trung bình

a) Khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.500.000 đồng đến 2.250.000 đồng.

b) Khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Điều 3. Tổ chức thực hiện

1. Chuẩn nghèo đa chiều quốc gia quy định tại Điều 1, Điều 2 Quyết định này là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội; hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác trong giai đoạn 2021-2025.

2. Trách nhiệm của các Bộ, ngành

a) Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội

- Xây dựng kế hoạch, phương pháp, công cụ hướng dẫn các địa phương tổ chức điều tra, xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo đầu kỳ; quy trình, công cụ rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hằng năm theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia áp dụng cho giai đoạn 2021-2025; hướng dẫn xác định hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình giai đoạn 2021-2025.

- Tổng hợp, báo cáo Quốc hội, Chính phủ kết quả thực hiện mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia áp dụng cho giai đoạn 2021-2025 đầu kỳ, hàng năm và cuối kỳ của cả nước và các tỉnh, thành phố.

- Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác điều tra, xác định, rà soát và quản lý hộ nghèo, hộ cận nghèo của cả nước.

- Nghiên cứu, thực hiện giải pháp nâng cao năng lực và khả năng tiếp cận của người dân về việc làm, lao động, sinh kế, tăng thu nhập và trợ giúp xã hội.

- Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu bổ sung, cập nhật chỉ số đo lường tiếp cận về việc làm.

b) Bộ Kế hoạch và Đầu tư

- Bổ sung hệ thống thu thập số liệu các chiều, chỉ số nghèo đa chiều trong Khảo sát mức sống dân cư nhằm phục vụ theo dõi, đánh giá tình trạng nghèo đa chiều của quốc gia các địa phương.

- Trên cơ sở kết quả Khảo sát mức sống dân cư hằng năm,
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) công bố tỷ lệ nghèo chung (có cập nhật chỉ số giá tiêu dùng - CPI), tỷ lệ hộ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, chỉ số nghèo đa chiều (MPI), làm cơ sở để định hướng các chính sách phát triển kinh tế vùng, lĩnh vực, chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội.

c) Bộ Tài chính

Chủ trì phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cân đối nguồn lực ngân sách để thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội khi áp dụng chuẩn nghèo đa chiều quốc gia cho giai đoạn 2021-2025.

d) Bộ Y tế

- Nghiên cứu, thực hiện giải pháp, chương trình cải thiện dinh dưỡng cho người dân, đặc biệt là người nghèo; tăng độ bao phủ tham gia bảo hiểm y tế, nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh.

- Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu bổ sung, cập nhật chỉ số đo lường tiếp cận về y tế, dinh dưỡng.

đ) Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Nghiên cứu, thực hiện giải pháp tăng tỷ lệ trẻ em đến trường đúng độ tuổi theo từng cấp học, giảm tỷ lệ bỏ học, lưu ban; tăng tỷ lệ người trong độ tuổi từ 16 tuổi đến 30 tuổi hoàn thành các chương trình giáo dục, đào tạo phù hợp với lứa tuổi.

- Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu bổ sung, cập nhật chỉ số đo lường tiếp cận về giáo dục, đào tạo.

e) Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

- Nghiên cứu, thực hiện giải pháp tăng tỷ lệ người dân sử dụng nguồn nước sinh hoạt an toàn, nhà tiêu hợp vệ sinh khu vực nông thôn và có việc làm, lao động, sinh kế, tăng thu nhập trong lĩnh vực nông nghiệp.

- Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu bổ sung, cập nhật chỉ số đo lường tiếp cận về nguồn nước sinh hoạt an toàn, nhà tiêu hợp vệ sinh.

g) Bộ Xây dựng

- Nghiên cứu, thực hiện giải pháp để hộ nghèo, hộ cận nghèo có nhà ở, tăng tỷ lệ người dân có nhà ở bảo đảm về diện tích và chất lượng.

- Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu bổ sung, cập nhật chỉ số đo lường tiếp cận về nhà ở.

h) Bộ Thông tin và Truyền thông

- Nghiên cứu, thực hiện giải pháp tăng cường khả năng tiếp cận thông tin của người dân.

- Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư nghiên cứu bổ sung, cập nhật chỉ số đo lường chất lượng tiếp cận thông tin và sử dụng dịch vụ viễn thông.

i) Ủy ban Dân tộc phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các Bộ liên quan xây dựng giải pháp giảm nghèo đa chiều, bền vững phù hợp với đồng bào dân tộc thiểu số.

k) Các Bộ, ngành liên quan: Trên cơ sở mức độ thiếu hụt về thu nhập và  tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân trên phạm vi cả nước và từng địa phương, đề xuất với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các giải pháp để tác động trong các chương trình, chính sách đặc thù và thường xuyên nhằm nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân, nhất là các vùng có tỷ lệ người dân tiếp cận thấp.

3. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc          Trung ương

a) Truyền thông, nâng cao nhận thức của các cấp, ngành và người dân về chuẩn nghèo đa chiều quốc gia áp dụng cho giai đoạn 2021-2025;

b) Tổ chức điều tra, xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo đầu kỳ; rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo hng năm theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia áp dụng cho giai đoạn 2021-2025; phân loại đối tượng thụ hưởng chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội hằng năm.

c) Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác điều tra, xác định, rà soát và quản lý hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn;

d) Nghiên cứu, thực hiện giải pháp, chương trình nâng cao thu nhập và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân trên địa bàn;

đ) Căn cứ điều kiện và khả năng thực tế của địa phương, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thể bổ sung tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản (dịch vụ, chỉ số thiếu hụt), điều chỉnh ngưỡng đo lường các chỉ số thiếu hụt, nâng tiêu chí về thu nhập cao hơn chuẩn nghèo đa chiều quốc gia với điều kiện tự cân đối ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật để thực hiện các chương trình, chính sách hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn do điều chỉnh, nâng mức.

Điều 4. Hiệu lực thi hành

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

 

Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;

- Kiểm toán nhà nước;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;

- Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia;

- Ngân hàng Chính sách xã hội;
- Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTg, TGĐ Cổng TTĐT,   

  các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
- Lưu: VT, KGVX (3b).

THỦ TƯỚNG





 

 


Nguyễn Xuân Phúc

 


 

BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI

 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:             /TTr-LĐTBXH

 

Hà Nội, ngày     tháng      năm 2020


DỰ THẢO

TỜ TRÌNH

 Về việc ban hành chuẩn nghèo đa chiều quốc gia

áp dụng cho giai đoạn 2021-2025 

 

Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ

 

Thực hiện Chương trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật năm 2020 của Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã tổ chức đánh giá kết quả thực hiện chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ; trên cơ sở đó, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, xây dựng dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn nghèo đa chiều quốc gia áp dụng cho giai đoạn 2021-2025. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định ban hành chuẩn nghèo đa chiều quốc gia áp dụng cho giai đoạn 2021-2025 với các nội dung chính như sau:

 1. Sự cần thiết ban hành

Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm tới công tác giảm nghèo và an sinh xã hội. Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01 tháng 6 năm 2012 của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020 đã đề ra mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội toàn dân, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, truyền thông; góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đã khẳng định “Chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, giải quyết tốt những vấn đề bức thiết; tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và giảm nghèo bền vững; tỉ lệ hộ nghèo giảm bình quân khoảng 1,0 - 1,5%/năm”.

Để thực hiện mục tiêu giảm nghèo, Việt Nam đã 07 lần ban hành chuẩn nghèo quốc gia, gồm các giai đoạn: 1993-1995, 1995-1997, 1997-2000, 2001-2005, 2006-2010, 2011-2015, 2016-2020. Chuẩn nghèo quốc gia là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách, chương trình giảm nghèo và an sinh xã hội; hoạch định các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và khu vực, địa phương trong từng giai đoạn. Chuẩn nghèo quốc gia được xây dựng theo mô hình tháp giảm nghèo, đáp ứng nhu cầu người nghèo từ thấp lên cao, phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách nhà nước và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước từng thời kỳ. Chuẩn nghèo quốc gia ban đầu được đo lường bằng hiện vật (gạo), sau đó mở rộng phạm vi đo lường bằng giá trị và hiện vật (gạo, tiền); đến năm 2000 đo lường bằng giá trị (tiền) và từ năm 2016 đến nay chuyển sang đo lường tiếp cận nghèo đa chiều phù hợp với xu thế tiến bộ chung của thế giới.

Trong giai đoạn 2016 - 2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 quy định về chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều. Chuẩn nghèo quốc gia được xây dựng dựa trên cách tiếp cận đảm bảo quyền con người (đặc biệt là quyền được đảm bảo an sinh xã hội của công dân); sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Các tiêu chí đo lường nghèo bao gồm: (1) Tiêu chí về thu nhập và (2) Tiêu chí về mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (gồm: y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin). Hộ nghèo được phân chia thành hộ nghèo về thu nhập và hộ nghèo về thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản. Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 hướng tới mục tiêu hỗ trợ người nghèo, người dân sinh sống trên địa bàn nghèo được đáp ứng những nhu cầu tối thiểu về lương thực, thực phẩm và phi lương thực thực phẩm; nhu cầu tối thiểu về điều kiện sống và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

Việc áp dụng chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020 đã nhận diện hộ nghèo, hộ cận nghèo đa chiều theo thu nhập và từng chiều, chỉ số thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Đây là cơ sở để địa phương thực hiện các chương trình, cơ chế đặc thù thực hiện mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều (từ 9,88% đầu năm 2016 xuống còn 3,75% cuối năm 2019, dự kiến xuống dưới 3% cuối năm 2020), bình quân giảm 1,53%/năm, tỷ lệ giảm nghèo đạt và vượt mục tiêu Quốc hội, Chính phủ đề ra cho giai đoạn 2016-2020 là 1-1,5%/năm. Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều đã bước đầu phân loại được mức độ nghèo giữa các vùng, miền. Phương pháp, công cụ, quy trình rà soát hộ nghèo bảo đảm tính khách quan hơn, dễ nhận diện đối tượng, xác định được mức độ thiếu hụt về thu nhập và các dịch vụ xã hội cơ bản của hộ nghèo để thực hiện các chính sách hỗ trợ phù hợp.

Tuy nhiên, trước yêu cầu xây dựng và triển khai các chương trình, chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phù hợp với bối cảnh, điều kiện mới của giai đoạn 2021 - 2025, chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 đã bộc lộ nhiều nội dung lạc hậu, bất cập, hạn chế. Trong đó, chuẩn nghèo về thu nhập bằng 70% chuẩn mức sống tối thiểu tại thời điểm năm 2015 (900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị và 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn) đã lạc hậu, không thể áp dụng cho giai đoạn tới; hộ nghèo được tách thành 02 nhóm: hộ nghèo về thu nhập và hộ nghèo về thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản, chưa phù hợp với phương pháp luận, bản chất nghèo đa chiều; chiều thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản về việc làm chưa được quy định; một số chỉ số đo lường tiếp cận nghèo đa chiều chưa cụ thể, chưa định lượng nên khó xác định khi thực hiện hoặc không còn phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội giai đoạn tới như chỉ số về tiếp cận các dịch vụ y tế, trình độ giáo dục của người lớn, nguồn nước sinh hoạt và vệ sinh, sử dụng dịch vụ viễn thông; Chưa xác định rõ giải pháp tác động đối với nhóm hộ nghèo thuộc đối tượng bảo trợ xã hội làm ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững của các địa phương.

Kết quả đánh giá việc thực hiện chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho thấy để thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững trong bối cảnh, điều kiện kinh tế - xã hội của giai đoạn 2021 - 2025, cần thiết phải xây dựng, ban hành chuẩn nghèo đa chiều quốc gia mới theo hướng kế thừa những điểm tích cực, thành công; khắc phục những nội dung lạc hậu, tồn tại, vướng mắc của chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2016 -2020 và giải quyết các vấn đề, chiều thiếu hụt phát sinh hoặc mới được nhận diện. Trong đó, chuẩn nghèo đa chiều quốc gia mới điều chỉnh, nâng tiêu chí về thu nhập bằng chuẩn mức sống tối thiểu tính tại thời điểm năm 2020; bổ sung chiều thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản về việc làm; sửa đổi, bổ sung các chỉ số đo lường các chiều thiếu hụt về y tế, dinh dưỡng, giáo dục, đào tạo, nhà ở, nước sạch, vệ sinh, thông tin và người phụ thuộc trong hộ gia đình; hộ nghèo phải đáp ứng cả 02 tiêu chí thiếu hụt về thu nhập và các chiều dịch vụ xã hội cơ bản, bảo đảm phù hợp với phương pháp luận, bản chất nghèo đa chiều.

Kế thừa và phát triển chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn trước ở một cấp độ, mức độ cao hơn, chuẩn nghèo đa chiều quốc gia áp dụng cho giai đoạn 2021 - 2025 hướng tới mục tiêu hỗ trợ toàn diện, bao trùm, bền vững người nghèo, người dân sinh sống trên địa bàn nghèo, giúp họ nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần, được đáp ứng nhu cầu về điều kiện sống an toàn; tiếp cận, sử dụng hiệu quả các dịch vụ xã hội cơ bản; nâng cao năng lực và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Chuẩn nghèo đa chiều quốc gia áp dụng cho giai đoạn 2021 - 2025 là cơ sở pháp lý để xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo, đối tượng khác thụ hưởng các chính sách, chương trình giảm nghèo trên phạm vi toàn quốc thông qua tổng điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo ngay trong quý IV năm 2020 và rà soát định kỳ, phát sinh hàng năm; xây dựng, triển khai, đánh giá và giám sát Chương trình mục tiêu Quốc gia về Giảm nghèo và An sinh xã hội bền vững; xây dựng các chương trình phát triển kinh tế - xã hội và ban hành các tiêu chí xác định địa bàn huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo.

Do vậy, việc xây dựng, ban hành chuẩn nghèo đa chiều quốc gia áp dụng cho giai đoạn 2021-2025 là hết sức cấp thiết, là cơ sở pháp lý cho các Bộ, ngành và địa phương thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững giai đoạn tới.

2. Chuẩn nghèo đa chiều quốc gia áp dụng cho giai đoạn 2021-2025

a) Chuẩn mức sống tối thiểu

Chuẩn mức sống tối thiểu được xác định dựa trên phương pháp tính toán chi phí cho các nhu cầu tối thiểu của con người (chi tiêu cho lương thực thực phẩm đáp ứng nhu cầu năng lượng (Kcal) tối thiểu cần thiết để duy trì sinh hoạt bình thường của con người các chi tiêu phi lương thực, thực phẩm) và được quy ra bằng tiền. Phương pháp này được các tổ chức quốc tế khuyến nghị áp dụng cho các nước đang phát triển, cũng là phương pháp đã được áp dụng từ trước đến nay ở Việt Nam.

Tại văn bản số 376/TCTK-XHMT ngày 23 tháng 3 năm 2020 và văn bản số 488/TCTK-XHMT ngày 14 tháng 4 năm 2020, Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đã tính toán và xác định mức sống tối thiểu dựa trên: (1) giá trị rổ hàng hóa lương thực thực phẩm cung cấp 2.100 Kcal/người/ngày năm 2018; (2) tỷ lệ lương thực thực phẩm trong tổng chi tiêu áp dụng với khu vực thành thị là 42,1%, áp dụng với khu vực nông thôn là 50%; (3) chỉ số giá tiêu dùng năm 2021 sẽ tăng 3%.

Theo đó, phương án chuẩn mức sống tối thiểu giai đoạn 2021-2025 theo giá tháng 01 năm 2021 - sử dụng rổ hàng hóa lương thực thực phẩm năm 2018 như sau: Chỉ số giá tiêu dùng tháng 01/2021 so với tháng 01/2020 là 103,0% thì chuẩn mức sống tối thiểu tính đến tháng 01/2021 ước tính là 1.586.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 2.065.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.

Việc xác định chuẩn mức sống tối thiểu vừa phải phản ánh khách quan nhu cầu đời sống của người dân, vừa phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn. Mục đích xác định chuẩn mức sống tối thiểu là để có những chính sách phù hợp, tác động nhằm cải thiện và nâng cao đời sống đối với nhóm dân cư sống dưới mức sống tối thiểu. Nếu xác định mức sống tối thiểu cao, quy mô đối tượng thụ hưởng chính sách lớn, sẽ không cân đối được nguồn lực thực hiện các chính sách.

Trên cơ sở tính toán của Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đề xuất chuẩn mức sống tối thiểu là 1.586.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 2.065.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.

b) Chuẩn mức sống trung bình

Việc xác định và công bố chuẩn mức sống trung bình trong từng thời kỳ vừa có ý nghĩa là thước đo, đánh giá sự phát triển chung kinh tế - xã hội của đất nước, mức độ cải thiện, nâng cao đời sống và phúc lợi cho người dân, vừa là cơ sở xác định nhóm dân cư có mức sống dưới mức trung bình xã hội để thực hiện một số chính sách hỗ trợ cần thiết như hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế đối với các hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm y tế.

Trên cơ sở tính toán của Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), chuẩn mức sống trung bình ở Việt Nam cao gấp 1,5 lần chuẩn mức sống tối thiểu, tương ứng với từng khu vực nông thôn và thành thị, do vậy, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đề xuất sử dụng chuẩn mức sống trung bình là 2,25 triệu đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 03 triệu đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.

Dự báo tại thời điểm tháng 01/2021, cả nước có khoảng 13,2% hộ dân cư có thu nhập bình quân trên mức sống tối thiểu đến mức sống trung bình, tương ứng với khoảng 3,57 triệu hộ, tương ứng với khoảng 13,88 triệu người; trong đó, có khoảng 14,5 % hộ dân cư ở khu vực nông thôn và khoảng 10,8% hộ dân cư ở khu vực thành thị.

c) Chuẩn nghèo đa chiều quốc gia áp dụng cho giai đoạn 2021 - 2025

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ và tính toán của Tổng cục Thống Kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) về chuẩn mức sống tối thiểu, chuẩn mức sống trung bình, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xây dựng chuẩn nghèo đa chiều quốc gia áp dụng cho giai đoạn 2021 - 2025 như sau:

(i) Các tiêu chí đo lường nghèo đa chiều quốc gia áp dụng cho giai đoạn 2021-2025

- Tiêu chí về thu nhập:

            Trong tất cả các lần xây dựng và ban hành chuẩn nghèo quốc gia trước đây, xu hướng chung chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn sau luôn cao hơn chuẩn nghèo quốc gia của giai đoạn trước và từng bước tiếp cận dần đến chuẩn mức sống tối thiểu. Mặt khác, tiêu chí về thu nhập luôn được tính toán trên nguyên tắc phù hợp với khả năng cân đối ngân sách nhà nước để có thể tập trung ưu tiên nguồn lực hỗ trợ cho nhóm dân cư nghèo nhất, đồng bào các dân tộc thiểu số vùng khó khăn, các địa bàn nghèo.

Qua các giai đoạn xây dựng chuẩn nghèo, dự báo của Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đều đảm bảo gần sát so với thực tế điều tra tại địa bàn (thực tế thường thấp hơn khoảng 1,5% - 2% so với số dự báo). Cụ thể: Giai đoạn 2005-2010, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo đầu kỳ là 22% năm 2005, giảm xuống còn 9,5% năm 2010; giai đoạn 2011-2015, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo đầu kỳ là 21% năm 2011, giảm xuống còn khoảng 10% năm 2015; giai đoạn 2016-2020, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo đầu kỳ là 15,1% năm 2016, giảm xuống còn 8,2% 2019 và dự kiến dưới 7% năm 2020.

Trên cơ sở tính toán của Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), ước tính ngân sách thực hiện và mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống cho người nghèo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đề xuất áp dụng tiêu chí về thu nhập theo phương án: 1,5 triệu đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 02 triệu đồng/người/tháng ở khu vực thành thị (tương ứng với chuẩn mức sống tối thiểu, có điều chỉnh giảm số lẻ đến đơn vị chục nghìn).

Dự báo tại thời điểm tháng 01/2021, cả nước có khoảng 16,3% hộ dân cư có thu nhập từ mức nêu trên trở xuống, tương ứng với khoảng 4,39 triệu hộ, khoảng 17,62 triệu người; trong đó, có khoảng 20,3% hộ dân cư ở khu vực nông thôn và khoảng 8,4% hộ dân cư ở khu vực thành thị.

            - Tiêu chí về thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản:

+ Về các chiều thiếu hụt: Bổ sung thêm chiều việc làm, vì đây là chiều phản ánh thu nhập và điều kiện bảo đảm ổn định cuộc sống của người dân; chỉ số việc làm gắn với thu nhập cũng sẽ là cơ sở để phân loại đối tượng hộ nghèo giai đoạn tới để có các giải pháp tác động phù hợp, thực hiện chính sách hỗ trợ hộ nghèo có điều kiện, có thời gian.

Kế thừa và bổ sung chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2016 - 2020, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đề xuất các dịch vụ xã hội cơ bản gồm 06 dịch vụ: y tế; giáo dục; nhà ở; nước sinh hoạt và vệ sinh; thông tin; việc làm.

+ Về các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản:

. Các chỉ số đề nghị sửa đổi, thay thế:

Về y tế, thay thế chỉ số tiếp cận các dịch vụ y tế bằng chỉ số dinh dưỡng với ngưỡng thiếu hụt như sau: hộ gia đình có ít nhất một trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng chiều cao theo tuổi hoặc cân nặng theo tuổi; chỉ số bảo hiểm y tế điều chỉnh ngưỡng thiếu hụt như sau: Hộ gia đình có ít nhất một người từ 6 tuổi đến dưới 80 tuổi hiện không có bảo hiểm y tế.

Về giáo dục, sửa đổi 02 chỉ số: Trình độ giáo dục của người lớn được thay thế như sau: Hộ gia đình có ít nhất một người trong độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi không có bằng cấp giáo dục đào tạo phù hợp với độ tuổi tương ứng (Người từ 16 đến 17 tuổi tốt nghiệp trung học cơ sở; 18 đến 24 tuổi tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc trung cấp nghề, 25 đến 30 tuổi tốt nghiệp trung cấp nghề, trung học chuyên nghiệp hoặc cao đẳng trở lên). Tình trạng đi học của trẻ em được thay thế như sau: Hộ có ít nhất 01 trẻ em từ 3 đến dưới 16 tuổi không được học đúng bậc, cấp học phù hợp với độ tuổi (trẻ từ 3-5 tuổi được tiếp cận giáo dục mầm non, trẻ từ 6-10 tuổi được tiếp cận giáo dục tiểu học, và trẻ từ 11-dưới 16 tuổi được tiếp cận giáo dục trung học cơ sở).

Về nước sạch và vệ sinh, sửa đổi thành nước sinh hoạt và vệ sinh; trong đó, thay đổi chỉ số nước sinh hoạt hợp vệ sinh thành chỉ số nguồn nước sinh hoạt an toàn (bao gồm nước máy, các nguồn nước hợp vệ sinh khác bảo đảm an toàn cho người sử dụng);

Về tiếp cận thông tin, sửa đổi tên thành thông tin; sửa đổi, bổ sung 2 chỉ số cụ thể như sau: Chỉ số tiếp cận thông tin: Hộ gia đình có ít nhất một người có nhu cầu nhưng không tiếp cận được thông tin về ít nhất một trong các lĩnh vực: y tế, giáo dục, sản xuất kinh doanh, hoặc thủ tục pháp lý. Chỉ số tài sản phục vụ tiếp cận thông tin và sử dụng dịch vụ viễn thông: Hộ gia đình không có ít nhất một trong số các tài sản: tivi, radio, máy tính, điện thoại thông minh; hoặc không có ai trong hộ sử dụng dịch vụ internet.

. Các chỉ số đề nghị bổ sung:

Về chỉ số tiếp cận việc làm: Hộ gia đình có ít nhất một người bị thất nghiệp (trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, sẵn sàng/mong muốn làm việc nhưng không tìm được việc làm; hoặc đang làm việc hưởng lương nhưng không có hợp đồng lao động (xem xét cho việc làm chính chiếm nhiều thời gian nhất của người lao động).

Về chỉ số về người phụ thuộc trong hộ gia đình: Hộ gia đình có tỷ lệ người phụ thuộc trong tổng số nhân khẩu lớn hơn 50%. Người phụ thuộc bao gồm: người dưới 18 tuổi, người từ 60 tuổi trở lên có thu nhập bình quân tháng không vượt quá mức sống tối thiểu, người từ 18 đến dưới 60 tuổi nhưng không có khả năng lao động và có thu nhập bình quân tháng không vượt quá mức sống tối thiểu.

Kế thừa và sửa đổi, bổ sung chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2016 - 2020, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đề xuất các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản gồm 12 chỉ số: dinh dưỡng; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục, đào tạo của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt an toàn; nhà tiêu hợp vệ sinh; tiếp cận thông tin; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin và sử dụng dịch vụ viễn thông; tiếp cận việc làm; người phụ thuộc trong hộ gia đình.

(Chi tiết chiều, chỉ số và ngưỡng thiếu hụt tại Phụ lục kèm theo Tờ trình này).

(ii) Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2021 - 2025

- Hộ nghèo: Khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.500.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000.000 đồng trở xuống và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

- Hộ cận nghèo: Khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 1.500.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản. Khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ 2.000.000 đồng trở xuống và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản.

- Hộ có mức sống trung bình: Khu vực nông thôn: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.500.000 đồng đến 2.250.000 đồng. Khu vực thành thị: Là hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

d) Tác động về ngân sách

- Theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia áp dụng cho giai đoạn 2021 - 2025, ước tính tỷ lệ hộ nghèo đa chiều khoảng 9,3%, tương ứng với 2,5 triệu hộ, 10 triệu khẩu; tỷ lệ hộ cận nghèo khoảng 7 %, tương ứng với 1,89 triệu hộ, 7,61 triệu khẩu.

- Ước tính khi thực hiện chuẩn nghèo đa chiều quốc gia áp dụng cho giai đoạn 2021-2025, tổng nguồn lực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 chỉ đạt 78,30% so với giai đoạn 2016-2020; ngân sách chi để thực hiện các chính sách giảm nghèo bình quân là 25.000 tỷ đồng/năm (bao gồm ngân sách hỗ trợ chi mua bảo hiểm y tế, chính sách hỗ trợ giáo dục, tiền điện, tín dụng/cấp bù lãi suất, trợ giúp pháp lý…), không làm gia tăng ngân sách so với giai đoạn 2016 - 2020.

(Có Báo cáo đánh giá tác động chính sách kèm theo Tờ trình này).

3. Quá trình xây dựng văn bản

- Thực hiện nhiệm vụ được giao trong Chương trình công tác năm 2019 của Ban Chỉ đạo Trung ương các CTMTQG tại Quyết định số 421/QĐ-TTg ngày 16/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ, năm 2019, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã chủ trì, phối hợp với Tổng cục Thống kê; các Bộ, ngành liên quan, Tổ chức Phát triển Liên hiệp quốc tại Việt Nam (UNDP) tiến hành nghiên cứu, đánh giá kết quả thực hiện chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều 03 năm (2016-2018) quy định tại Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ (Khảo sát, đánh giá thực địa tại các tỉnh: Bến Tre, Thái Bình, Đắk Lắk, Yên Bái, Thanh Hóa) và xây dựng khuyến nghị, đề xuất bổ sung, sửa đổi, thay thế một số chiều, chỉ số, ngưỡng thiếu hụt; hoàn thiện chuẩn nghèo đa chiều phù hợp, hiệu quả hơn trong giai đoạn 2021-2025.

- Tổ chức các hội thảo kỹ thuật, lấy ý kiến các Bộ, ngành; cơ quan nghiên cứu; chuyên gia trong nước và quốc tế; tổ chức hội nghị, hội thảo, cuộc họp kỹ thuật để lấy ý kiến các địa phương (tại Gia Lai, Bạc Liêu).

- Phối hợp, lấy ý kiến bằng văn bản của Tổng cục Thống kê về việc nghiên cứu, xây dựng các phương án mức sống tối thiểu, tính toán tỷ lệ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, tỷ lệ hộ nghèo của cả nước, khu vực khi áp dụng chuẩn nghèo đa chiều mới;

- Phối hợp, lấy ý kiến bằng văn bản của Bộ Tài chính về dự kiến ngân sách để thực hiện các chính sách hỗ trợ người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2021 so với năm 2020; và dự kiến ngân sách trong giai đoạn 2021-2025 so với giai đoạn 2016-2020.

- Lấy ý kiến bằng văn bản của các Bộ, ngành và địa phương về dự thảo Tờ trình, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn nghèo đa chiều quốc gia  áp dụng cho giai đoạn 2021-2025 và đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội lấy ý kiến nhân dân.

- Trên cơ sở ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hoàn chỉnh, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành Quyết định.

4. Nội dung dự thảo Quyết định

Trên cơ sở ý kiến góp ý của các Bộ, ngành và địa phương, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hoàn thiện dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn nghèo đa chiều quốc gia áp dụng cho giai đoạn 2021-2025 bao gồm 04 Điều với các nội dung chủ yếu sau:

- Điều 1 (Các tiêu chí đo lường nghèo đa chiều quốc gia áp dụng cho giai đoạn 2021-2025) quy định: (i) Tiêu chí về thu nhập. (ii) Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản: Các dịch vụ xã hội cơ bản (06 dịch vụ) gồm: y tế; giáo dục; nhà ở; nước sinh hoạt và vệ sinh; thông tin; việc làm. Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản (12 chỉ số) gồm: dinh dưỡng; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục, đào tạo của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt an toàn; nhà tiêu hợp vệ sinh; tiếp cận thông tin; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin và sử dụng dịch vụ viễn thông; tiếp cận việc làm; người phụ thuộc trong hộ gia đình.

- Điều 2 (Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2021 - 2025) quy định: Hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình ở khu vực nông thôn và khu vực thành thị.

- Điều 3 (Tổ chức thực hiện) quy định: (i) Chuẩn nghèo đa chiều quốc gia quy định tại Điều 1, Điều 2 Quyết định này là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội; hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác trong giai đoạn 2021-2025. (ii) Trách nhiệm của các Bộ, ngành. (iii) Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

- Điều 4 (Hiệu lực thi hành) quy định: Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2021.

5. Về ý kiến góp ý của các Bộ, ngành, địa phương

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội kính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định./.

 

Nơi nhận:

- Thủ tướng Chính phủ;

- Các Phó Thủ tướng Chính phủ;

- Văn phòng Chính phủ;

- Các Bộ, ngành Trung ương;

- Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam;

- Ban Kinh tế Trung ương;

- UBCVĐXH của Quốc hội;

- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;

- UBND các tỉnh, TP trực thuộc TW;

- Lưu: VT, VPQGGN.

BỘ TRƯỞNG

 

 

 

 

 

Đào Ngọc Dung


 

Phụ lục 1: Tiêu chí đo lường nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025

 

1. Tiêu chí về thu nhập

   

 

 

Giai đoạn 2016-2020

Giai đoạn 2021-2025

Lý do điều chỉnh

Chuẩn mức sống tối thiểu (chuẩn cận nghèo)

1.000.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.300.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.

1.500.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 2.000.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị (bằng 100% mức sống tối thiểu)

Nâng mức tiêu chí về thu nhập đảm bảo mức sống tối thiểu theo từng giai đoạn phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của đất nước và đảm bảo khả năng cân đối ngân sách

Chuẩn nghèo về thu nhập

700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị (bằng 70% mức sống tối thiểu)

 
2. Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản
 

 

Giai đoạn 2016-2020

Giai đoạn 2021-2025

Cơ sở pháp lý

Lý do điều chỉnh so với giai đoạn 2016-2020

Chiều

Chỉ số

Ngưỡng cắt

Thiếu hụt nếu [...]

Chiều

Chỉ số

Ngưỡng cắt

Thiếu hụt nếu [...]

Y tế

Tiếp cận các dịch vụ y tế

Hộ gia đình có người bị ốm đau nhưng không đi khám chữa bệnh (ốm đau được xác định là bị bệnh/chấn thương nặng đến mức phải nằm một chỗ và phải có người chăm sóc tại giường hoặc nghỉ việc/học không tham gia được các hoạt động bình thường);

 

Y tế

Dinh dưỡng

Hộ gia đình có ít nhất một trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng chiều cao theo tuổi hoặc cân nặng theo tuổi.

Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 đến 2020 và tầm nhìn đến năm 2030;

 

Chỉ số cũ khó được hiểu và thực hiện không thống nhất ở các địa phương, không nhạy cảm chính sách à thay thế bằng chỉ số phản ảnh kết quả của việc sử dụng dịch vụ mà mục đích cuối cùng là sức khỏe thể chất và tinh thần của người dân

Bảo hiểm y tế

Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên từ 6 tuổi trở lên hiện tại không có bảo hiểm y tế;

 

Bảo hiểm y tế

Hộ gia đình có ít nhất một người từ 6 tuổi đến dưới 80 tuổi hiện không có bảo hiểm y tế

Hiến pháp năm 2013

Luật bảo hiểm y tế 2014

NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020.

 

Người trên 80 tuổi được cấp BHYT miễn phí

Giáo dục

Trình độ giáo dục người lớn

Hộ gia đình có ít nhất 1 thành viên đủ 15 tuổi sinh từ năm 1986 trở lại không tốt nghiệp Trung học cơ sở và hiện không đi học;

 

 

Trình độ giáo dục người lớn

Hộ gia đình có ít nhất một người trong độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi không có bằng cấp giáo dục đào tạo phù hợp với độ tuổi tương ứng (Người từ 16 đến 17 tuổi tốt nghiệp trung học cơ sở; 18 đến 24 tuổi tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc trung cấp nghề, 25 đến 30 tuổi tốt nghiệp trung cấp nghề, trung học chuyên nghiệp hoặc cao đẳng trở lên).

Luật Giáo dục

Luật giáo dục nghề nghiệp

Chỉ số cũ không có sự thay đổi đáng kể cần thay thế bằng chỉ số thích hợp hơn, hướng tới đào tạo các cấp học theo từng độ tuổi

Tình trạng đi học của trẻ em

Hộ gia đình có ít nhất 1 trẻ em trong độ tuổi đi học (5-dưới 15 tuổi) hiện không đi học;

 

Tình trạng đi học của trẻ em

Hộ có ít nhất 1 trẻ em từ 3 đến dưới 16 tuổi không được học đúng bậc, cấp học phù hợp với độ tuổi (trẻ từ 3-5 tuổi được tiếp cận giáo dục mầm non, trẻ từ 6-10 tuổi được tiếp cận giáo dục tiểu học, và trẻ từ 11-dưới 16 tuổi được tiếp cận giáo dục trung học cơ sở).

Luật giáo dục

chỉ số cũ có mức độ nhạy cảm chính sách không lớn, cần được điều chỉnh bằng ngưỡng đo lường phù hợp hơn

Nhà ở

Chất lượng nhà ở

Hộ gia đình đang ở trong nhà thiếu kiên cố hoặc nhà đơn sơ (Nhà ở chia thành 4 cấp độ: nhà kiên cố, bán kiên cố, nhà thiếu kiên cố, nhà đơn sơ);

 

 

Chất lượng nhà ở

Hộ gia đình đang sống trong ngôi nhà/căn hộ thuộc loại không bền chắc (hay trong ba kết cấu chính là tường, cột, mái thì có ít nhất hai kết cấu được làm bằng vật liệu không bền chắc).

Luật Nhà ở;

NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020.

Giữ nguyên, chuẩn hóa từ ngữ ngưỡng thiếu hụt

Diện tích nhà ở bình quân đầu người

Diện tích nhà ở bình quân đầu người của hộ gia đình nhỏ hơn 8 m2

 

Diện tích nhà ở bình quân đầu người

Diện tích nhà ở bình quân đầu người của hộ gia đình nhỏ hơn 8 m2

Luật Nhà ở;

Quyết định 2127/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030

Giữ nguyên

Nước sạch và vệ sinh

Nguồn nước sinh hoạt

Hộ gia đình không được tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh (nước máy, nước mua, giếng khoan, giếng đào được bảo vệ, khe/mó được bảo vệ, nước mưa)

 

Nước sinh hoạt và vệ sinh

Nguồn nước sinh hoạt an toàn

Hộ gia đình không tiếp cận được nguồn nước an toàn (gồm: nước máy, giếng khoan, giếng đào được bảo vệ, nước khe/mó được bảo vệ và nước mua, nước đóng chai bình)

NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020.

Cập nhật thêm một số loại nguồn nước được tính là an toàn

Loại Hố xí/Nhà tiêu

Hộ gia đình không sử dụng nhà tiêu/ hố xí hợp vệ sinh (tự hoại/bán tự hoại, thấm dội nước, cải tiến có ống thông hơi, hai ngăn)

 

Nhà tiêu hợp vệ sinh

Hộ gia đình không sử dụng nhà tiêu/ hố xí hợp vệ sinh (gồm: tự hoại/bán tự hoại, thấm dội nước (Suilabh), cải tiến có ống thông hơi (VIP), hố xí đào có bệ ngồi, hai ngăn)

NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020.

Cập nhật thêm một số loại nhà tiêu/hố xí hợp vệ sinh

Tiếp cận thông tin

Sử dụng dịch vụ viễn thông

Hộ gia đình không có thành viên nào sử dụng thuê bao điện thoại và internet;

Thông tin

Tiếp cận thông tin

Hộ gia đình có ít nhất một người có nhu cầu nhưng không tiếp cận được thông tin về ít nhất một trong các lĩnh vực: y tế, giáo dục, sản xuất kinh doanh, hoặc thủ tục pháp lý

 

Bổ sung chỉ số hướng tới đảm bảo đáp ứng nhu cầu của người dân về thông tin

Tài sản phục vụ tiếp cận thông tin

Hộ gia đình không có tài sản nào trong số các tài sản: Tivi, radio, máy tính; và không nghe được hệ thống loa đài truyền thanh xã/thôn.

 

Tài sản phục vụ tiếp cận thông tin và sử dụng dịch vụ viễn thông

Hộ gia đình không có ít nhất một trong số các tài sản: tivi, radio, máy tính, điện thoại thông minh; hoặc không có ai trong hộ sử dụng dịch vụ internet

Luật Viễn thông

Luật Thông tin truyền thông

NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020.

 

Điều chỉnh nâng cấp chỉ số cũ phù hợp hơn với thực tế

 

 

 

Việc làm

Tiếp cận việc làm

Hộ gia đình có ít nhất một người bị thất nghiệp (trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, sẵn sàng/mong muốn làm việc nhưng không tìm được việc làm; hoặc đang làm việc hưởng lương nhưng không có hợp đồng lao động*

(*): Xem xét cho việc làm chiếm nhiều thời gian nhất của người lao động

Luật Việc làm

Bổ sung thêm chiều việc làm để phản ảnh thu nhập và an ninh cuộc sống của người dân trước những rủi ro trong cuộc sống; là cơ sở để phân loại đối tượng hộ nghèo giai đoạn tới để có các giải pháp tác động phù hợp, làm cơ sở để thực hiện nguyên tắc hỗ trợ hộ nghèo có điều kiện, có thời gian.

 

 

 

Người phụ thuộc trong hộ gia đình

Hộ gia đình có tỷ lệ người phụ thuộc trong tổng số nhân khẩu lớn hơn 50%. Người phụ thuộc bao gồm: người dưới 18 tuổi, người từ 60 tuổi trở lên có thu nhập bình quân tháng không vượt quá mức sống tối thiểu, người từ 18 đến dưới 60 tuổi nhưng không có khả năng lao động và có thu nhập bình quân tháng không vượt quá mức sống tối thiểu

Tiết d.1.2, điểm d, khoản 1 Điều 9 Thông tư 111/2013-TT-BTC

 

(Mức 1 triệu trong Thông tư được thay thế bằng mức sống tối thiểu)