BỘ CÂU HỎI CHÍNH SÁCH LIỆT SĨ

Ngày xuất bản:
Lượt đọc: 1168

 BỘ CÂU HỎI CHÍNH SÁCH LIỆT SĨ

 

I. NGƯỜI HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG TRƯỚC NGÀY 01 THÁNG 01 NĂM 1945

VÀ NGƯỜI HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG TỪ NGÀY 01 THÁNG 01 NĂM 1945 ĐẾN NGÀY KHỞI NGHĨA THÁNG TÁM NĂM 1945

 

          Câu 1.  Bố tôi nghỉ hưu năm 1979, mất năm 1993. Mới đây tôi về quê nhà tại xã Y tỉnh Quảng Ngãi (nơi bố tôi hoạt động trước đây), tình cờ đọc cuốn lịch sử đảng bộ xã trong đó có ghi bố tôi được kết nạp đảng từ tháng 7/1945 cùng với 2 đồng chí nữa. Khi tôi mang cuốn lịch sử đảng bộ đó làm căn cứ đề nghị công nhận bố tôi là cán bộ Lão thành cách mạng thì cơ quan chức năng trả lời là chỉ có thể xem xét công nhận bố tôi là cán bộ Tiền khởi nghĩa vì lịch sử đảng bộ không ghi bố tôi hoạt động trước ngày 01/01/1945. Vậy tôi xin  bố tôi có đủ điều kiện để công nhận lão thành cách mạng hay không?

          Trả lời: Điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP quy định một trong những điều kiện để được công nhận người hoạt động cách mạng trước 01/01/1945 (cán bộ Lão thành cách mạng) là: “Được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông Dương hoặc được kết nạp lại trước ngày 19 tháng Tám năm 1945…”.

Như vậy, trường hợp bố của ông (bà), trong lịch sử Đảng bộ xã đã ghi thời gian kết nạp đảng trước ngày 19 tháng Tám năm 1945 nên vẫn thuộc diện được xem xét công nhận là người hoạt động cách mạng trước 01/01/1945 (cán bộ Lão thành cách mạng).

          Câu 2. Trường hợp ông X tham gia hoạt động cách mạng từ trước ngày 01/01/1945, đến 1960 đã bị kỷ luật khai trừ khỏi đảng, sau đó đến 1969 được kết nạp lại. Ông X có thuộc đối tượng xem xét công nhận cán bộ lão thành cách mạng hay không?

          Trả lời: tại khoản 2 Điều 5 và khoản 3 Điều 11 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP quy định không xác nhận cán bộ lão thành cách mạng và tiền khởi nghĩa đối với những trường hợp bị khai trừ khỏi đảng. Theo đó không công nhận các trường hợp trước đây là đảng viên nhưng nay không còn là đảng viên nữa do bị kỷ luật bằng hình thức khai trừ khỏi đảng. Đối với trường hợp do vi phạm đã bị kỷ luật khai trừ khỏi đảng nhưng sau đó được kết nạp lại vào  thì vẫn thuộc đối tượng được xem xét, xác nhận.

          Câu 3 . Bà tôi trước năm 1945 tham gia là hội viên Phụ nữ dân chủ, vậy có thuộc đối tượng xem xét, công nhận cán bộ lão thành cách mạng hay không?

          Trả lời: Điểm 1 Mục I Thông tri số 07-TT/TC ngày 21/3/1979 của Ban tổ chức Trung ương hướng dẫn vận dụng tiêu chuẩn và xác nhận những đối tượng được hưởng chính sách, chế độ đối với cán bộ hoạt động cách mạng trước ngày 19/8/1945 có quy định về tiêu chuẩn như sau:

          “Được kết nạp vào Đảng cộng sản Đông dương hoặc kết nạp lại trước ngày 19/8/1945; nếu chưa là đảng viên cộng sản thì phải hoạt động trong một tổ chức quần chúng của Đảng và được giao công tác …”

          Tại tiết a điểm 2 Mục I Thông tri quy định: “hoạt động trong một tổ chức quần chúng của Đảng là kể các hội viên chính thức của những tổ chức bất hợp pháp với địch trong thời kỳ bí mật do Đảng tổ chức và lãnh đạo như: Tự vệ đỏ, Công hội đỏ, Nông hội đỏ, thanh niên dân chủ, thanh niên phản đế, phụ nữ dân chủ, phụ nữ phản đế, các hội cứu quốc (kể cả nhi đồng cứu quốc), các tổ chức trong mặt trận Việt Minh…

          Như vậy trường hợp bà của bạn thuộc diện được xem xét xác nhận cán bộ lão thành cách mạng.

          Câu 4. Ông tôi trước năm 1945 không tham gia cách mạng nhưng thường xuyên nuôi dấu cán bộ, đã được tặng bằng “có công với nước”. Sau Cách mạng tháng Tám thành công thoát ly tham gia bộ đội. Vậy ông tôi có được công nhận là người hoạt động cách mạng trước 01/01/1945 hay không? hay là giải quyết chế độ người có công giúp đỡ cách mạng ? Nếu đề nghị hưởng cả 2 chế độ nêu trên có được không?

          Trả lời: tại tiết b điểm 2 Mục I Thông tri số 07-TT/TC ngày 21/3/1979 của Ban tổ chức Trung ương có nêu: “Đối với những người tuy không ở trong một tổ chức quần chúng …..; hoặc những người chủ gia đình, cơ sở giúp đỡ cán bộ cách mạng (vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng) đã làm những việc như: nuôi dấu cán bộ, cho sử dụng nhà mình làm nơi hội họp, liên lạc, in tài liệu, truyền đơn từ 31/12/1944 trở về trước, có tính chất thường xuyên, sau đó tiếp tục hoạt động cách mạng thì thời gian làm những việc trên cũng được tính và được hưởng chế độ đối với cán bộ hoạt động cách mạng trước 19/8/1945

          Như vậy ông của ông (bà) thuộc diện được xem xét, xác nhận cán bộ lão thành cách mạng.

          Theo quy định tại khoản 5 Điều 33 Pháp lệnh, trường hợp đã được công nhận cán bộ lão thành cách mạng thì không giải quyết chế độ người có công giúp đỡ cách mạng.

          Câu 5. Ông tôi thoát ly tham gia cách mạng từ trước cách mạng tháng Tám năm 1945 nhưng sau cách mạng thành công, vì lý do khách quan không thể liên lạc được với tổ chức nên ông ở nhà và tiếp tục có nhiều thành tích giúp đỡ cách mạng, được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Vậy ông tôi có được xem xét, công nhận cán bộ tiền khởi nghĩa không?

          Trả lời: Khoản 1 Điều 11 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP quy định điều kiện công nhận cán bộ tiền khởi nghĩa như sau: “Người hoạt động cách mạng thoát ly là người đã tham gia trong các tổ chức cách mạng, lực lượng vũ trang từ cấp huyện … và sau đó tiếp tục tham gia một trong hai cuộc kháng chiến (trừ trường hợp do yêu cầu giảm chính, phục viên hoặc không đủ sức khỏe.)”

          Đối chiếu với quy định trên, ông của ông (bà) không thuộc diện công nhận cán bộ tiền khởi nghĩa.

          Câu 6. Địa phương tôi có trường hợp ông X là người hoạt động cách mạng trước cách mạng tháng Tám năm 1945, sau đó bị địch bắt tù. Theo tài liệu lưu trữ của cơ quan an ninh thì trong quá trình bị địch bắt, tra tấn ông có khai báo 1 số thông tin khiến địch bắt được 1 đồng chí cơ sở cách mạng của ta. Sau khi ra tù ông X tiếp tục tham gia cách mạng cho đến ngày đất nước giải phóng. Vây trường hợp này có thể công nhận cán bộ tiền khởi nghĩa được không?

          Trả lời: Tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP quy định không xác nhận người có công đối với những trường hợp đào ngũ, đầu hàng, phản bội, chiêu hồi.

          Như vậy, trường hợp của ông X không đủ điều kiện công nhận cán bộ tiền khởi nghĩa.

          Câu 7. Bố tôi là cán bộ Tiền khởi nghĩa, trước đây tôi học cao đẳng y tế thời gian học là 2 năm và đã được hưởng trợ cấp ưu đãi giáo dục theo quy định của Thông tư liên tịch số 16. Sau khi thi tốt nghiệp trường cấp bằng đa khoa, tôi tiếp tục học chuyên khoa cao đẳng thêm 6 tháng nữa để lấy chứng chỉ chuyên khoa. Vậy trong thời gian học chuyên khoa có được hưởng chế độ ưu đãi giáo dục không?

          Trả lời: Khoản 5 Điều 54 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP có quy định: “Không áp dụng chế độ ưu đãi giáo dục đối với người có công với cách mạng và con của họ trong trường hợp đã hưởng chế độ ưu đãi tại một cơ sở giáo dục nghề nghiệp hoặc cơ sở giáo dục đại học”.

          Trường hợp của ông (bà) đã được hưởng trợ cấp ưu đãi giáo dục tại một cơ sở giáo dục giáo dục đại học nên không thuộc diện được hưởng trợ cấp ưu đãi giáo dục nữa.

          Câu 8. Ông tôi tham gia cách mạng từ tháng 5/1945, trong lý lịch Đảng viên khai theo Thông tri 297 năm 1976 thì từ tháng 5/1945 đến tháng 2/1946, ông tôi là “chấp hành nông dân, thư ký Ủy ban cách mạng lâm thời xã”. Như vậy ông tôi có thuộc diện được xem xét công nhận cán bộ tiền khởi nghĩa không?

          Trả lời: Tại Điều 10 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng có quy định: “Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đứng đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát ly hoạt động cách mạng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945”.

          Người tham gia hoạt động cách mạng ở cấp xã từ tháng 5/1945 nhưng không phải là người đứng đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã thì không thuộc diện xem xét công nhận là cán bộ tiền khởi nghĩa.

          Câu 9. Tôi được bà Nguyễn Thị A nhận làm con nuôi, đến năm 2000 mẹ nuôi tôi lấy ông Nguyễn Văn B là cán bộ Tiền khởi nghĩa. Vậy tôi có được hưởng chế độ ưu đãi học sinh sinh viên không? (Có quyết định công nhận là con nuôi và tôi ở với bà A từ nhỏ đến giờ).

          Trả lời: Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân không phân biệt con đẻ hay con nuôi. Tuy nhiên trường hợp của ông (bà) chỉ là con nuôi của bà Nguyễn Thị A nên không thuộc diện được hưởng ưu đãi trong giáo dục và đào tạo.

          Câu 10. Tôi là con đẻ ông Nguyễn Văn X và hiện tôi đang cư trú tại Mỹ. Bố tôi đã mất từ năm 1989 và đến năm 2013 ông được Tỉnh ủy Thái Bình ra quyết định công nhận là cán bộ Lão thành cách mạng. Tuy nhiên Sở Lao động – Thương binh và Xã hội ra quyết định trợ cấp một lần mức 10.000.000đ đối với con tôi hiện đang ở Việt Nam (trợ cấp đối với người thờ cúng). Tôi xin hỏi tôi có được nhận tiền trợ cấp mức 50 triệu đồng hay không và nếu được thì thủ tục phải như thế nào?

          Trả lời: Điều 10 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng quy định cán bộ Lão thành cách mạng chết mà chưa được hưởng chế độ ưu đãi thì đại diện thân nhân được hưởng trợ cấp một lần mức 50 triệu đồng. Trường hợp không còn thân nhân thì người thờ cúng được nhận trợ cấp một lần mức 10 triệu đồng. Nghị định không quy định thân nhân phải là người đang cư trú ở trong nước mới được nhận trợ cấp.

Vì vậy nếu có quốc tịch Việt Nam thì được hưởng trợ cấp một lần đối với thân nhân cán bộ Lão thành cách mạng (mức 50 triệu đồng). Ông cần bổ sung bản khai (có xác nhận của cơ quan đại diện ngoại giao hoặc đại diện lãnh sự của Việt Nam tại Mỹ) gửi Sở LĐTBXH nơi đã thực hiện chế độ trợ cấp. Nếu ông không thể trực tiếp về Việt Nam để nhận trợ cấp thì có thể làm thủ tục ủy quyền nhận trợ cấp theo quy định tại Điều 42 Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH.

          Câu 11. Địa phương tôi có trường hợp của bà X, sau khi chồng mất năm 2001 bà ra nước ngoài sinh sống và hiện đã thôi quốc tịch Việt Nam. Năm 2013, chồng bà được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam công nhận là cán bộ tiền khởi nghĩa. Vậy trường hợp này có giải quyết trợ cấp tiền tuất hàng tháng đối với bà X không. Nếu giải quyết thì thủ tục thế nào?

          Trả lời: Chính sách ưu đãi người có công và thân nhân của họ chỉ thực hiện đối với những người có quốc tịch Việt Nam. Vì vậy trường hợp của bà X không thuộc diện hưởng ưu đãi.

          Câu 12. Tôi chung sống với ông Nguyễn Văn M từ năm 1990 và đã có 1 con chung nhưng không đăng ký kết hôn, đến năm 1999 ông M được công nhận là cán bộ tiền khởi nghĩa. Năm 2009 ông M mất, vậy tôi có được hưởng chế độ tuất đối với thân nhân cán bộ tiền khởi nghĩa hay không?

          Trả lời: khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng”.

          Trường hợp của bà không được công nhận là vợ của ông M nên không được hưởng trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân cán bộ tiền khởi nghĩa.

          Câu 13. Ông nội tôi là liệt sĩ chống Pháp tại Thái Bình. Trong hồ sơ liệt sĩ của ông tôi có ghi tháng 5/1945 làm đội viên du kích xã, đến 29/8/1945 được giao làm bí thư thanh niên cứu quốc xã. Tôi làm hồ sơ đề nghị cơ quan chức năng công nhận ông tôi là cán bộ tiền khởi nghĩa nhưng được trả lời là không đủ điều kiện do trước ngày khởi nghĩa ông không đứng đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã. Tôi xin hỏi như vậy có đúng không?

          Trả lời: điểm d khoản 2 Điều 11 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP quy định một trong những điều kiện để công nhận cán bộ tiền khởi nghĩa là: “người tham gia hoạt động cách mạng tháng Tám năm 1945 và sau ngày khởi nghĩa đến 31/8/1945 đứng đầu một tổ chức cách mạng quy định tại điểm a, điểm b khoản này”

          Như vậy trường hợp hoạt động không thoát ly và thời gian từ ngày khởi nghĩa trở về trước không đứng đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã nhưng ngay sau khởi nghĩa đã được giao đứng đầu một tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã thì vẫn thuộc diện được xem xét, công nhận là cán bộ tiền khởi nghĩa.

          Câu 14. Chồng tôi là cán bộ Lão thành cách mạng đã mất năm 1982. Chúng tôi sinh được một cháu gái hiện đã xây dựng gia đình và đang định cư tại Ba Lan. Tôi sống độc thân ở Việt Nam, vậy tôi có được hưởng trợ cấp tuất nuôi dưỡng không?

          Trả lời: Khoản 5 Điều 4 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP quy định: “người sống cô đơn, không nơi nương tựa là người sống độc thân, không có hoặc không còn thân nhân”.

          Trường hợp của bà vẫn còn con gái thì không thuộc diện được hưởng trợ cấp tuất nuôi dưỡng hàng tháng.

          Câu 15. Chồng tôi là cán bộ Lão thành cách mạng, nghỉ hưu năm 1980 và đã mất năm 2010. Từ đó đến nay tôi được hưởng trợ cấp tuất hưu trí do cơ quan BHXH chi trả và khoản chênh lệch hơn 500.000 đồng/tháng do cơ quan LĐTBXH chi trả nhưng không được hưởng tuất lão thành cách mạng. Tôi nghe nói Pháp lệnh ưu đãi người có công mới có thay đổi chế độ tuất, vậy trường hợp của tôi có được tuất lão thành cách mạng không? Nếu được thì hưởng từ thời điểm nào?

          Trả lời: Đối với người đang hưởng tuất hưu trí, Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQH13 không hạn chế quyền hưởng trợ cấp tuất người có công từ trần nói chung và tuất lão thành cách mạng nói riêng. Vì vậy trường hợp của bà đang hưởng tuất do BHXH chi trả vẫn đủ điều kiện hưởng trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân cán bộ lão thành cách mạng, thời điểm hưởng kể từ ngày 01/01/2013.

          Câu 16. Tôi sinh năm 1965, năm 1990 tôi tham gia làm cán bộ xã và đến 2000 tôi bị tai nạn giao thông nên phải ngồi xe lăn. UBND xã cho tôi nghỉ việc hưởng trợ cấp 1 lần. Đến tháng 6 năm 2009, bố tôi (đã mất) được nhà nước công nhận là cán bộ Lão thành cách mạng và tôi đã được nhận trợ cấp một lần 50 triệu đồng. Tôi có được hưởng thêm chế độ tuất Lão thành cách mạng hàng tháng hay không?

          Trả lời: điểm d khoản 3 Điều 10 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP quy định khi cán bộ lão thành cách mạng chết thì con bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng sau khi đủ 18 tuổi nếu suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên và không có thu nhập hàng tháng hoặc thu nhập hàng tháng thấp hơn 0,6 lần mức chuẩn được hưởng trợ cấp tiền tuất từ ngày có kết luận của Hội đồng giám định y khoa.

          Như vậy trường hợp của ông thuộc diện được xem xét, giải quyết chế độ trợ cấp tiền tuất hàng tháng.

          Câu 17. Bố tôi là cán bộ lão thành cách mạng (đã mất năm 1998). Bản thân tôi tham gia công tác trong một cơ quan nhà nước, đến năm 1990 về nghỉ chế độ mất sức lao động do ốm đau, suy giảm khả năng lao động 71%. Năm 2000 tôi đã bị cắt chế độ mất sức lao động (do đã hưởng đủ ½ thời gian công tác). Hiện nay tôi không có thu nhập hàng tháng và đã có biên bản của Hội đồng giám định y khoa kết luận suy giảm khả năng lao động 71%. Tôi có được hưởng chế độ tuất Lão thành cách mạng hàng tháng hay không?

          Trả lời: Con của cán bộ lão thành cách mạng nếu bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng mới thuộc đối tượng xem xét giải quyết chế độ trợ cấp tuất hàng tháng. Trường hợp của ông bị suy giảm khả năng lao động do ốm đau, bệnh tật mà không bị khuyết tật nên không đủ điều kiện hưởng trợ cấp tiền tuất đối với con của cán bộ lão thành cách mạng.

II. LIỆT SĨ

Câu 18. Bác tôi là quân nhân năm 1962 vào chiến trường miền Nam chiến đấu, mất tin từ đó đến nay nhưng gia đình vẫn không được hưởng một chế độ gì. Vậy theo chính sách mới thì bác tôi có được xem xét xác nhận là liệt sĩ không?

Trả lời: Người mất tin, mất tích theo quy định tại điểm a khoản 1, Điều 11 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng được sửa đổi bổ sung, được xem xét xác nhận là liệt sĩ.

Câu 19. Mẹ tôi trước đây là cán bộ phụ nữ xã ở Mỏ Cày, Bến Tre, năm 1960 tham gia phong trào Đồng khởi và sau một cuộc đấu tranh binh vận với địch thì bà bị bắt và sau đó không còn trở về. Đến nay gia đình vẫn chưa được hưởng chế độ gì. Vậy mẹ tôi có thuộc diện xem xét xác nhận liệt sĩ không?

Trả lời: Theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng thì người mất tin, mất tích trong trường hợp trực tiếp đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận có tổ chức với địch được xem xét xác nhận là liệt sĩ.

Câu 20. Ông của tôi trước tham gia hoạt động cách mạng những năm 30 bị địch bắt đày ra nhà tù Côn Đảo. Theo gia đình được biết thì sau khi bị địch bắt ông tôi đã cùng vài đồng chí bí mật đóng bè vượt ngục và sau đó không còn tin tức. Vậy ông tôi có được công nhận là liệt sĩ không?

Trả lời: Theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng thì người mất tin, mất tích trong trường hợp hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, thực hiện chtrương vượt tù, vượt ngục được xem xét xác nhận là liệt sĩ.

Câu 21.  Em trai tôi trước là bộ đội tham gia chiến đấu ở chiến trường K, cuối năm 1980 gia đình nhận được lá thư cuối cùng của em tôi gửi về từ chiến trường, sau đó không còn tin tức gì nữa. Vậy gia đình tôi có được hưởng chế độ của thân nhân liệt sĩ không?

Trả lời: Theo quy định tại Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng được sửa đổi bổ sung, theo đó người mất tin, mất tích trong trường hợp làm nghĩa vụ quốc tế được xem xét xác nhận là liệt sĩ.

Câu 22. Anh trai tôi là công nhân của Công ty xây dựng đường bộ X, tham gia xây dựng đường bên nước bạn Lào năm 2001 theo một hợp đồng kinh tế với nước bạn, từ đó tới nay không thấy trở về. Vậy anh tôi có được xem xét xác nhận liệt sĩ theo diện người mất tin mất tích khi đi làm nhiệm vụ quốc tế không?

Trả lời: Theo qui định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 của Chính phủ thì người làm nghĩa vụ quốc tế: là người được Nhà nước, quân đội, công an giao thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở nước ngoài.

Nghị định này cũng qui định trường hợp bị chết trong khi học tập, tham quan, du lịch, an dưỡng, chữa bệnh, thăm viếng hữu nghị; làm việc theo hợp đồng kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hoá, giáo dục, lao động thì không thuộc diện xem xét xác nhận là thương binh.

Theo qui định nêu trên, trường hợp mất tin mất tích của anh ông không thuộc diện xem xét xác nhận liệt sĩ.

Câu 23. Em của tôi làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và bị tai nạn chết nhưng lại không được xác nhận liệt sĩ. Theo cơ quan chức năng trả lời em tôi bị tai nạn giao thông do phóng nhanh lấn đường nên không đủ điều kiện để xác nhận, vậy có đúng không?

Trả lời: Chính phủ đã ban hành Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 hướng dẫn một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng bổ sung, sửa đổi, theo đó những trường hợp chết do tự bản thân gây nên hoặc do vi phạm pháp luật, vi phạm quy định của cơ quan, đơn vị thì không thuộc diện xem xét xác nhận liệt sĩ.

Theo qui định trên, trường hợp em của ông tử vong là do tự bản thân gây nên do vi phạm Luật Giao thông đường bộ nên không thuộc diên xem xét xác nhận liệt sĩ.

Câu 24. Năm 2010 anh của tôi đang làm nhiệm vụ tìm kiếm, qui tập hài cốt liệt sĩ ở thành phố Buôn Ma Thuật thì bị lựu đạn cũ vùi dưới mộ nổ nhưng chỉ được giải quyết chế độ tai nạn, vậy có đúng không?

Trả lời: Theo quy định trước đây, việc xem xét xác nhận liệt sĩ chỉ áp dụng đối với những trường hợp chết trong khi trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, qui tập hài cốt liệt sĩ ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, do vậy trường hợp anh của ông chỉ được giải quyết chế độ tại nạn lao động là đúng theo qui định tại thời điểm đó.

Tuy nhiên hiện nay Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng được sửa đổi bổ sung đã qui định trường hợp đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan có thẩm quyền giao mà bị chết thì thuộc diện được xem xét xác nhận liệt sĩ, không phụ thuộc vào địa bàn hy sinh.

Câu 25. Anh của tôi tham gia chiến đấu ở chiến trường K từ năm 1979 đến 1982, tháng 7/1982 anh được đưa trở về nước vì mắc bệnh nặng, đến tháng 2/1983 thì chết trong khi điều trị tại Quân y viện 75. Vậy anh tôi có được xem xét xác nhận liệt sĩ không?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 thì  những trường hợp làm nghĩa vụ quốc tế mà bị bệnh phải đưa về nước điều trị và chết trong khi đang điều trị thì thuộc diện xem xét xác nhận liệt sĩ trừ những trường hợp chết từ ngày 31 tháng 12 năm 1994 trở về trước đã được cơ quan có thẩm quyền kết luận không đủ điều kiện xác nhận liệt sĩ hoặc đã báo tử theo chế độ tử sĩ hoặc quân nhân từ trần, tai nạn lao động.

Câu 26. Bố tôi là thương binh hạng 2/4 tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật 75%, năm 2011 do vết thương cũ tái phát bố tôi phải đi cấp cứu và chết ngay tại Trung tâm y tế huyện, tuy nhiên bố tôi lại không được xem xét xác nhận liệt sĩ vì theo cơ quan chức năng trả lời là trường hợp của bố tôi không có bệnh án điều trị và biên bản kiểm thảo tử vong của bệnh viện cấp tỉnh trở lên nên không đủ cơ sở để giải quyết. Như vậy có đúng với qui định của Nhà nước không?

Trả lời: Vào thời điểm năm 2011 việc xác định thương binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động dưới 81% chết do vết thương cũ tái phát để xem xét công nhận liệt sĩ được căn cứ theo kết luận của cơ quan y tế mà cụ thể là theo bệnh án điều trị và biên bản kiểm thảo tử vong của bệnh viện từ cấp tỉnh trở lên.

Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 có hiệu lực từ ngày 01/6/2013, việc xác nhận liệt sĩ đối với thương binh chết do vết thương tái phát đối với thương binh suy giảm khả năng lao động do thương tật từ 61% - 80% chết do vết thương tái phát thì phải có bệnh án điều trị và biên bản kiểm thảo tử vong của bệnh viện cấp huyện hoặc tương đương trở lên kết luận nguyên nhân chết do vết thương tái phát.

Câu 27. Bố tôi là thương binh chống Pháp suy giảm khả năng lao động do thương tật 26% với nhiều vết thương phần mềm trên cơ thể. Tháng 6 năm 2013 bố tôi phải đi cấp cứu do vết thương cũ tái phát và chết trong quá trình điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh, có đầy đủ bệnh án điều trị và biên bản kiểm thảo tử vong. Vậy bố tôi có được xem xét xác nhận liệt sĩ không?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 việc xem xét xác nhận liệt sĩ được áp dụng đối với thương binh, người hưởng chính sách như thương binh suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên chết do vết thương tái phát.

Trường hợp bố của ông là thương binh suy giảm khả năng lao động dưới 61% chết nên không thuộc diện áp dụng quy định nêu trên.

Câu 28. Anh của tôi là cảnh sát biển, chết do tai nạn trong đợt diễn tập cứu hộ tàu thuyền bị đắm đầu năm 2013. Vậy anh tôi có được xác nhận là liệt sĩ không?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 thì trường hợp chết trong khi trực tiếp làm nhiệm vụ diễn tập cứu hộ, cứu nạn, ứng cứu thảm họa thiên tai được xem xét xác nhận là liệt sĩ.

Câu 29. Bác tôi là thương binh loại B thời chống Mỹ suy giảm khả năng lao động do thương tật 81%. Tháng 2 năm 2013 bác tôi phải đi cấp cứu do vết thương cũ tái phát và chết trong quá trình điều trị tại Bệnh viện huyện, có đầy đủ xác nhận của bệnh viện là chết do vết thương tái phát. Vậy bác tôi có được xem xét xác nhận liệt sĩ không?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 thì việc xác nhận liệt sĩ được áp dụng đối với thương binh, người hưởng chính sách như thương binh suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên chết do vết thương tái phát ( không áp dụng đối với thương binh loại  B).

Trường hợp bác của ông là thương binh loại B chết nên không đủ điều kiện xác nhận liệt sĩ.

Câu 30. Anh tôi là bảo vệ dân phố, tháng 12/2012 khi đuổi bắt kẻ ăn trộm xe máy, anh tôi bị hắn dùng dao tấn công gây thương tích còn hắn đã trốn thoát. Anh tôi được cấp cứu tại bệnh viện nhưng không qua khỏi. Ủy ban nhân dân phường lập hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ liệt sĩ nhưng đến nay chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy báo tử vì chưa có bản án do chưa bắt được kẻ gay án. Vậy trường hợp của tôi cần giấy tờ gì thay thế bản án để được xem xét giải quyết chế độ liệt sĩ.

Trả lời: Theo hướng dẫn tại Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2013, trường hợp tham gia đấu tranh chống lại hoặc ngăn chặn hành vi gây nguy hiểm cho xã hội thuộc các tội được quy định trong Bộ luật Hình sự thì căn cứ để cấp giấy báo tử phải có Kết luận của cơ quan điều tra. Trường hợp không xác định được đối tượng phạm tội phải có quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án.

Câu 31. Tôi là con liệt sĩ năm nay 63 tuổi, hoàn cảnh gia đình khó khăn. Tôi có được xem xét hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng đối với thân nhân liệt sĩ không?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013, con đã hết tuổi lao động của liệt sĩ được giải quyết trợ cấp tiền tuất hàng tháng nếu bị khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng, suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà không có thu nhập hàng tháng hoặc có thu nhập hàng tháng nhưng thấp hơn 0,6 lần mức chuẩn.

Trường hợp con liệt sĩ đã hết tuổi lao động, hoàn cảnh gia đình khó khăn nhưng không bị khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng thì không được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng.

Câu 32. Tôi vừa là vợ của liệt sĩ (nay đã tái giá), vừa là mẹ của liệt sĩ. Tôi đang hưởng trợ cấp tuất hàng tháng của liệt sĩ là con trai tôi. Nay tôi có được hưởng thêm chế độ trợ cấp tuất đối với vợ liệt sĩ đã tái giá hay không?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 thì bà được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng đối với mẹ của liệt sĩ.

Nếu đủ điều kiện hưởng tuất vợ liệt sĩ tái giá thì bà đồng thời được hưởng hai suất tuất: tuất của mẹ liệt sĩ và tuất vợ liệt sĩ tái giá.

 Câu 33. Gia đình tôi không còn thân nhân nào đang hưởng trợ cấp tuất hàng tháng của liệt sĩ (chỉ còn chị dâu là vợ liệt sĩ tái giá đang hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng), vậy tôi là em trai liệt sĩ có được hưởng chế độ thờ cúng liệt sĩ hàng năm theo qui định mới không ?

Trả lời: Theo quy định tại Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2013 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội thì trường hợp của ông vẫn được hưởng chế độ thờ cúng liệt sĩ hàng năm.

Câu 34. Anh trai tôi hy sinh năm 1969, chị dâu tôi chưa có con với liệt sĩ, ở nhà với gia đình chồng được 5 năm thì đi tái giá. Vậy chị dâu tôi có được hưởng trợ cấp tiền tuất đối với vợ liệt sĩ tái giá hay không?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 thì vợ hoặc chồng liệt sĩ lấy chồng hoặc lấy vợ khác được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ ngày Giám đốc Sở Lao động- Thương binh và Xã hội ra quyết định.

Trường hợp chị dâu của ông chưa có con với liệt sĩ nhưng chăm sóc bố mẹ liệt sĩ khi còn sống thì được giải quyết trợ cấp tiền tuất hàng tháng.

Câu 35. Cô tôi có người con trai là liệt sĩ. Năm con trai lên 8 tuổi chồng chết, cô tái giá để con trai lại cho bác tôi nuôi. Bác tôi đã được hưởng chế độ người có công nuôi dưỡng liệt sĩ. Vậy cô tôi có được hưởng trợ cấp tuất liệt sĩ không?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 thì trường hợp cô của ông là mẹ liệt sĩ nên thuộc diện được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng.

Câu 36. Vợ chồng tôi nhận nuôi cháu từ khi mới 5 tuổi, được chính quyền địa phương nơi cư trú thừa nhận. Năm 18 tuổi cháu nhập ngũ, hy sinh khi đang làm nhiệm vụ cứu dân trong trận lũ miền Trung năm 2010. Anh rể tôi (là bố đẻ của cháu) đang giữ Bằng “Tổ quốc ghi công” và hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng. Vợ chồng tôi đang thờ cúng cháu, xin hỏi có được hưởng trợ cấp tiền tuất liệt sĩ không?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 thì trường hợp này bố đẻ của liệt sĩ được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng đối với cha của liệt sĩ. Ông và vợ ông đều được hưởng trợ cấp tiền tuất đối với người có công nuôi liệt sĩ.

Câu 37.  Tôi là con liệt sĩ đã được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng cho đến đủ 18 tuổi. Năm 25 tuổi tôi bị liệt nửa người do tai nạn giao thông, vậy tôi có được hưởng lại trợ cấp tuất hàng tháng không?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013, trường hợp con sau khi đủ 18 tuổi mà bị khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng, suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên nếu không có thu nhập hàng tháng hoặc có thu nhập hàng tháng nhưng thấp hơn 0,6 lần mức chuẩn thì được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng. Trường hợp của ông được hưởng lại trợ cấp tiền tuất hàng tháng theo quy định. Thời điểm hưởng kể từ ngày có biên bản của Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền kết luận tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.

Câu 38. Con trai tôi hy sinh năm 1979, do giấy tờ thất lạc nên đến cuối năm 2012 đơn vị mới đủ căn cứ xác lập hồ sơ đề nghị xác nhận liệt sĩ, Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng Tổ quốc ghi công tháng 3/2013. Tôi là mẹ của liệt sĩ có được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ năm 1979 không?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013, trường hợp liệt sĩ hy sinh trước ngày Pháp lệnh ưu đãi người có công có hiệu lực thi hành thì cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng; con dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ ngày 01 tháng 01 năm 2013.

Câu 39. Anh tôi là công an hy sinh trong khi chống tội phạm vào tháng 10 năm 2012. Anh tôi được xác nhận liệt sĩ và được tặng Bằng Tổ quốc ghi công tháng 4 năm 2013. Xin hỏi bố mẹ tôi được hưởng chế độ trợ cấp tuất hàng tháng của liệt sĩ từ thời điểm nào?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013, nếu liệt sĩ  hy sinh từ ngày Pháp lệnh có hiệu lực thì cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng; con dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên còn tiếp tục đi học hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ tháng liền kề sau tháng liệt sĩ hy sinh. Trong trường hợp mà ông nêu, liệt sĩ hy sinh sau ngày Pháp lệnh có hiệu lực (01/9/2012) nên bố mẹ của liệt sĩ được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ tháng 11 năm 2012.

Câu 40.  Chồng tôi hy sinh tháng 7/1986 nhưng do giấy tờ thất lạc, đầu năm 2013 đơn vị mới xác lập hồ sơ đề nghị xác nhận liệt sĩ, được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng Tổ quốc ghi công tháng 5/2013. Bố, mẹ chồng tôi được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ  tháng 1/2013, nhưng tôi là vợ liệt sĩ tái giá lại chỉ được hưởng từ tháng 6/2013 thì có đúng không?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013, trường hợp liệt sĩ  hy sinh trước ngày Pháp lệnh có hiệu lực thì cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng; con dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên nếu còn tiếp tục đi học hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ ngày 01 tháng 01 năm 2013.

Nghị định này cũng quy định, trường hợp vợ hoặc chồng liệt sĩ lấy chồng hoặc lấy vợ khác thì được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ ngày Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội ra quyết định. Như vậy, nếu quyết định của Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội ghi thời điểm hưởng trợ cấp tuất hàng tháng của liệt sĩ đối với bà từ ngày 01/6/2013 thì bà được hưởng trợ cấp từ tháng 6/2013 là đúng theo quy định.

Câu 41. Anh tôi là thương binh hạng 1/4 tỷ lệ 95%, chết do vết thương tái phát tháng 2/2012. Mẹ và vợ của anh tôi đã được hưởng chế độ trợ cấp tuất hàng tháng đối với thương binh từ trần. Nay anh tôi được xác nhận là liệt sĩ và được tặng Bằng Tổ quốc ghi công tháng 6/2013. Vậy mẹ và vợ của anh tôi có được hưởng tiền chênh lệch giữa chế độ trợ cấp tuất liệt sĩ và tuất thương binh từ trần không ?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013, nếu liệt sĩ  hy sinh từ ngày Pháp lệnh có hiệu lực (01/9/2012) thì cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng; con dưới 18 tuổi hoặc từ đủ 18 tuổi trở lên còn tiếp tục đi học hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng từ tháng liền kề khi liệt sĩ hy sinh.

Theo quy định tại Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2013  của Bộ Lao đông-Thương binh và Xã hội, trường hợp thân nhân người có công đủ điều kiện hưởng trợ cấp tuất hàng tháng đối với thân nhân liệt sĩ thì Sở Lao động - Thương binh và Xã hội ra quyết định hưởng chế độ tuất hàng tháng đối với thân nhân liệt sĩ và chi trả khoản tiền chênh lệch.Trong trường hợp mà ông nêu, mẹ và vợ của liệt sĩ sẽ được chuyển hưởng chế độ trợ cấp tuất hàng tháng đối với thân nhân liệt sĩ và sẽ được truy lĩnh khoản trợ cấp chênh lệch tính từ tháng 02 năm 2013 cho đến khi được chuyển hưởng chế độ.

Câu 42. Tôi là cha của ba liệt sĩ, hưởng trợ cấp tuất nuôi dưỡng hàng tháng. Tôi nghe nói sắp tới sẽ được hưởng trợ cấp cả 3 suất tuất của liệt sĩ. Vậy tôi có được hưởng thêm chế độ trợ cấp tuất nuôi dưỡng hàng tháng nữa không vì tôi hiện sống cô đơn không nơi nương tựa?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013, trường hợp của ông được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng bằng ba suất trợ cấp tuất của liệt sĩ. Nếu ông sống cô đơn không nơi nương tựa thì được hưởng thêm trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng.

Câu 43. Anh tôi là quân nhân hy sinh năm 1972, khi hy sinh chưa có vợ con. Đến tháng 4/2013, anh tôi được Chính phủ công nhận liệt sĩ và tặng Bằng “Tổ quốc ghi công” nhưng hiện nay bố mẹ đã không còn. Vậy gia đình tôi có được hưởng chế độ ưu đãi cụ thể nào không?

Trả lời: Theo quy định hiện hành, trường hợp khi báo tử liệt sĩ không còn thân nhân (cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng; con) thì người thờ cúng liệt sĩ giữ Bằng "Tổ quốc ghi công" được hưng khoản tiền trợ cấp một lần như đối với thân nhân liệt sĩ. Mức trợ cấp một lần bằng 20 lần mức chuẩn.

Câu 44. Cô của tôi là mẹ liệt sĩ đang hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng, chết tháng 4/2013. Tôi là cháu đứng ra tổ chức lễ tang chu đáo. Vậy tôi có được hưởng trợ cấp mai táng phí và khoản trợ cấp một lần hay không?

Trả lời: Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng được sửa đổi bổ sung đã quy định thân nhân của liệt sĩ đang hưởng trợ cấp tuất hàng tháng mà chết thì người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí; đại diện thân nhân (cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng; con) được hưởng trợ cấp một lần bằng 03 tháng trợ cấp tuất đang hưởng.

Theo quy định nêu trên, ông là người tổ chức mai táng nên được hưởng trợ cấp mai táng phí nhưng không thuộc diện hưởng trợ cấp một lần.

Câu 45. Chú của tôi là thương binh 71% chết, bà tôi đã được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng. Nay chú tôi được xác nhận là liệt sĩ vì chết do vết thương tái phát, vậy bà của tôi có được hưởng thêm chế độ trợ cấp tuất hàng tháng đối với thân nhân liệt sĩ  không?

Trả lời: Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng được sửa đổi bổ sung đã qui định trường hợp người có công với cách mạng thuộc hai đối tượng trở lên chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp tiền tuất ca một đối tượng.

Theo qui định trên, bà của ông sẽ được chuyển hưởng chế độ trợ cấp tuất hàng tháng đối với thân nhân của liệt sĩ, cao hơn chế độ hiện hưởng.

Câu 46. Chồng tôi là cán bộ hưu trí đồng thời là thương binh suy giảm khả năng lao động 65%. Tôi thuộc diện được hưởng chế độ trợ cấp tuất hàng tháng đối với thân nhân người có công từ trần, đồng thời cũng thuộc diện hưởng trợ cấp tuất hàng tháng theo chế độ bảo hiểm xã hội. Vậy tôi có được hưởng cả hai chế độ trợ cấp tuất hàng tháng không?

Trả lời: Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng được sửa đổi bổ sung đã quy định người có công với cách mạng chết thì thân nhân được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng, trợ cp tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng theo chế độ ưu đãi người có công với cách mạng.

Theo quy định trên, bà được hưởng chế độ trợ cấp tiền tuất hàng tháng đối với thân nhân người có công từ trần, còn chế độ trợ cấp tuất đối với thân nhân của cán bộ hưu trí chết thực hiện theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội.

Câu 47. Vợ tôi là thương binh suy giảm khả năng lao động 75% chết tháng 2/2013 đã được xác nhận liệt sĩ. Vậy tôi có được hưởng cả hai chế độ trợ cấp tuất hàng tháng của thương binh từ trần và trợ cấp tuất hàng tháng của liệt sĩ không?

Trả lời: Theo quy định tại Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2013  của Bộ Lao đông-Thương binh và Xã hội, trường hợp thân nhân người có công đủ điều kiện hưởng trợ cấp tuất hàng tháng đối với thân nhân liệt sĩ thì Sở Lao động - Thương binh và Xã hội ra quyết định hưởng chế độ tuất hàng tháng đối với thân nhân liệt sĩ và chi trả khoản tiền chênh lệch.Trong trường hợp mà ông nêu, ông sẽ được chuyển hưởng chế độ trợ cấp tuất hàng tháng đối với thân nhân liệt sĩ và sẽ được truy lĩnh khoản trợ cấp chênh lệch tính từ tháng 3/2013 cho đến khi được chuyển sang hưởng chế độ trợ cấp tuất liệt sĩ.

Câu 48. Tôi đang hưởng trợ cấp tuất hàng tháng của 2 con là thương binh và bệnh binh suy giảm khả năng lao động 65% chết. Nay con thứ 3 của tôi hy sinh trong khi chống tội phạm và được công nhận là liệt sĩ. Vậy tôi có được hưởng thêm 1 suất trợ cấp tuất hàng tháng đối với thân nhân của liệt sĩ nữa không?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 thì trường hợp của ông được hưởng một suất trợ cấp tiền tuất của người có công từ trần và một suất trợ cấp tiền tuất của liệt sĩ.

Câu 49. Cô tôi là mẹ của 3 liệt sĩ đồng thời là vợ của người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945 đã từ trần tháng 12/2012. Vậy cô tôi có được hưởng thêm khoản trợ cấp tiền tuất người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945 từ trần hay không?

Trả lời:  Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 thì thân nhân của hai hoặc ba liệt sĩ trở lên đồng thời là thân nhân của người có công từ trần chỉ hưởng trợ cấp tiền tuất đối với thân nhân liệt sĩ.

Trường hợp cô của ông đã hưởng trợ cấp tiền tuất của 3 liệt sĩ thì không hưởng thêm trợ cấp tuất hàng tháng đối với thân nhân của người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945 từ trần.

Câu 50. Bà tôi có 2 người con: người con trai là liệt sĩ, còn người con gái bị tàn tật nặng từ nhỏ, không có khả năng lao động, sống phụ thuộc vào nguồn trợ cấp của nhà nước. Vậy bà tôi có được xem xét để được hưởng thêm chế độ trợ cấp tuất nuôi dưỡng hàng tháng không?

Trả lời:  Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 thì cha đẻ, mẹ đẻ của liệt sĩ đang hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng được hưởng thêm trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng nếu sống cô đơn không nơi nương tựa.

Đối với trường hợp nêu trên, tuy còn một người con gái nhưng bị khuyết tật nặng, thuộc đối tượng của chính sách bảo trợ xã hội. Vì vậy, có thể vận dụng giải quyết trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng.

Câu 51. Tôi là con gái của liệt sĩ, trên tôi còn có một người anh. Trước đây anh tôi thờ cúng bố tôi, nhưng nay anh tôi đã mất, gia đình họ tộc ủy quyền cho con trai anh tôi là cháu đích tôn tiếp tục thờ cúng liệt sĩ. Vậy tôi có được thờ cúng liệt sĩ và hưởng chế độ không?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013,  trường hợp không còn người hưởng trợ cấp tuất hàng tháng của liệt sĩ thì người đại diện một trong các con của liệt sĩ hưởng chế độ thờ cúng liệt sĩ. Trường hợp không còn con thì người giữ Bằng “Tổ quốc ghi công” và được họ tộc ủy quyền theo quy định của pháp luật hưởng chế độ thờ cúng liệt sĩ.

Câu 52. Tôi được biết vợ, con của liệt sĩ được hưởng chế độ trợ cấp tuất hàng tháng nhưng tôi lại là vợ lẽ của liệt và đã có với nhau 2 mặt con, ở địa phương mọi người đều biết. Vậy xin cho hỏi trường hợp của tôi và các con có được hưởng chế độ ưu đãi đối với vợ, con của liệt sĩ hay không?

Trả lời: Đây là vấn đề do lịch sử để lại, nếu bà và các con của bà có đủ căn cứ chứng minh là vợ, con của liệt sĩ thì được hưởng các chính sách ưu đãi đối với thân nhân liệt sĩ. Đề nghị bà liên hệ với chính quyền địa phương hoàn chỉnh thủ tục bổ sung tình hinh thân nhân của liệt sĩ để làm căn cứ giải quyết chế độ ưu đãi.

Câu 53. Tôi là vợ liệt sĩ đang hưởng chế độ trợ cấp ưu đãi hàng tháng. Đầu năm 2010 tôi phạm tội buôn bán ma túy và bị kết án 5 năm tù giam. Do cải tạo tốt, tôi được quyết định ân xá tháng 6/2013. Vậy tôi có được hưởng lại chế độ ưu đãi không và được hưởng lại từ bao giờ?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013, trường hợp người đang hưởng chế độ ưu đãi mà phạm tội không thuộc các tội xâm phạm an ninh quốc gia, bị phạt tù có thời hạn nhưng không được hưởng án treo thì trong thời gian chấp hành hình phạt tù bị tạm đình chỉ hưởng chế độ ưu đãi. Việc phục hồi chế độ ưu đãi sẽ được thực hiện từ tháng liền kề sau khi có quyết định chấp hành xong hình phạt tù của cơ quan có thẩm quyền.

Theo quy định trên, bà được hưởng lại chế độ ưu đãi từ tháng 7 năm 2013, sau khi có quyết định ân xá.

 

III. BÀ MẸ VIỆT NAM ANH HÙNG

Câu 54. Bà mẹ có 5 người con, trong đó có hai con là liệt sĩ: một người là con với chồng trước và một người là con với người chồng sau. Xin hỏi bà mẹ đó có thuộc diện xét tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” không?

Trả lời: Theo quy định tại Pháp lệnh số 05/2012/UBTVQH13 ngày 20/10/2012 thì những bà mẹ có 2 con trở lên là liệt sĩ được phong tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng".

Như vậy trường hợp của bà mẹ đã nêu đủ điều kiện xét tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

Câu 55. Bà mẹ có 3 người con: trong đó có một con đẻ và 1 con nuôi là liệt sĩ. Xin hỏi bà mẹ có thuộc diện xét tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” không?

Trả lời: Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22/5/2012 quy định: Người con là liệt sĩ là người đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng Tổ quốc ghi công, bao gồm con đẻ, con nuôi theo quy định của pháp luật.

Như vậy, trong trường hợp đã nêu, nếu liệt sĩ là người con nuôi đã được pháp luật thừa nhận thì bà mẹ đủ điều kiện để xét tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

Câu 56. Bà mẹ có 3 người con đẻ (một trai, hai gái), người con trai duy nhất là liệt sĩ, bà mẹ có thuộc diện xét tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” không?

Trả lời: Theo quy định Pháp lệnh số 05/2012/UBTVQH13 ngày 20/10/2012, những bà mẹ chỉ có một con mà người con đó là liệt sĩ được tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” (không phân biệt người con đó là nam hay nữ).

Như vậy, bà mẹ có ba người con nhưng trong số đó chỉ có một người là liệt sĩ thì không thuộc diện xét tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

Câu 57. Bà mẹ có 2 người con sinh năm 1950 và 1952. Năm 1954 người con đầu chết vì bom đạn, người con thứ hai nhập ngũ và hy sinh năm 1970, bà mẹ có thuộc diện xét tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” không?

Trả lời: Trường hợp những bà mẹ có nhiều con, những  người con khác đều đã chết lúc chưa đến tuổi thành niên hoặc trước khi người con là liệt sĩ tham gia cách mạng thì vẫn thuộc diện xét tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

 Trường hợp bà mẹ đã nêu tuy có 2 người con nhưng người con đầu chết trước khi người con thứ hai tham gia cách mạng nên người con là liệt sĩ được coi là người con duy nhất của bà mẹ. Như vậy, bà mẹ đủ điều kiện xét tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

Câu 58. Bà mẹ có ba người con, trong đó có một người con là liệt sĩ, một người con là thương binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động 85%, hiện bà đang sống cùng người con thứ 3. Vậy bà mẹ có thuộc diện xét tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” không?

Trả lời: Theo quy định tại Pháp lệnh số 05/2012/UBTVQH13 ngày 20/10/2012,  những bà mẹ chỉ có 2 con mà 1 con là liệt sĩ và 1 con là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên thì được phong tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

Như vậy, trường hợp bà mẹ đã nêu không thuộc diện được xét tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

Câu 59. Bà mẹ có 3 người con lần lượt sinh năm 1950, 1952, 1954. Năm 1968 người con đầu nhập ngũ. Năm 1970 người con thứ 2 nhập ngũ, hy sinh năm 1973. Năm 1972 người con thứ 3 nhập ngũ, bị thương được xác nhận là thương binh suy giảm khả năng lao động 81%. Năm 2011 người con đầu chết vì bệnh, vậy bà mẹ có thuộc diện xét tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” không?

Trả lời: Theo quy định tại Pháp lệnh số 05/2012/UBTVQH13 ngày 20/10/2012, những bà mẹ chỉ có 2 con mà 1 con là liệt sĩ và 1 con là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên thì được phong tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

Như vậy, trường hợp bà mẹ đã nêu không thuộc diện được xét tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

Câu 60. Bà mẹ có 3 người con trong đó 1 người con là liệt sĩ, 1 người con là thương binh suy giảm khả năng lao động 81%, 1 người con là bệnh binh suy giảm khả năng lao động 85%, có thuộc diện xét tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” không?

Trả lời: Theo quy định tại Pháp lệnh số 05/2012/UBTVQH13 ngày 20/10/2012, những bà mẹ chỉ có 2 con mà 1 con là liệt sĩ và 1 con là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên thì được phong tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng".

Như vậy, trường hợp bà mẹ đã nêu không thuộc diện được xét tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

Câu 61. Bà mẹ có nhiều con, trong đó có một con chung với chồng trước là liệt sĩ, người chồng sau cũng là liệt sĩ. Sau khi người chồng hy sinh bà mẹ không đi tái giá. Vậy bà mẹ có thuộc diện xét tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” không?

Trả lời: Pháp lệnh số 05/2012/UBTVQH13 ngày 20/10/2012, những bà mẹ có 1 con là liệt sĩ và có chồng hoặc bản thân là liệt sĩ được phong tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng".

Trường hợp bà mẹ nêu trên có một con đẻ và chồng là liệt sĩ.  Do vậy, bà mẹ đủ điều kiện xét tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

Câu 62. Bà mẹ có người chồng trước là liệt sĩ, một trong những người con chung với chồng sau cũng là liệt sĩ. Vậy bà mẹ có thuộc diện xét tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” không?

Trả lời: Pháp lệnh số 05/2012/UBTVQH13 ngày 20/10/2012, những bà mẹ có 1 con là liệt sĩ và có chồng hoặc bản thân là liệt sĩ được phong tặng hoặc truy tặng danh hiệu vinh dự nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng".

Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013, trường hợp vợ liệt sĩ tái giá nếu đủ điều kiện thì chỉ hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng của liệt sĩ.

Như vậy, trường hợp bà mẹ nêu trên không đủ điều kiện xét tặng danh hiệu vinh dự nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng".

 Câu 63. Bà mẹ A có 1 con đẻ là thương binh suy giảm khả năng lao động 81% và 1 con nuôi (anh B) là liệt sĩ. Anh B là con đẻ duy nhất của bà C. Trường hợp này bà mẹ nào được xét tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”?

Trả lời: Theo quy định tại Pháp lệnh số 05/2012/UBTVQH13 ngày 20/10/2012, những bà mẹ chỉ có 1 con mà người con đó là liệt sĩ thì được tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” hoặc những bà mẹ chỉ có 2 con mà 1 con là liệt sĩ và 1 con là thương binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên được tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

Như vậy, nếu bà C đủ điều kiện thì tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” với bà C. Trường hợp bà C không đủ điều kiện thì tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” đối với bà A.

Câu 64. Bà mẹ có 1 con dâu, bản thân và 1 cháu nội là liệt sĩ. Vậy bà mẹ có thuộc diện xét tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” không?

Trả lời: Nghị định số 56/2013/NĐ-CP ngày 22/5/2012 quy định: Người con là liệt sĩ là người đã được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng Tổ quốc ghi công, bao gồm con đẻ, con nuôi theo quy định của pháp luật.

Vì vậy, trường hợp bà mẹ đã nêu không thuộc diện xét tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”.

IV. CÂU HỎI VỀ THƯƠNG BINH NGƯỜI HƯỞNG

CHÍNH SÁCH NHƯ THƯƠNG BINH

        Câu 65. Tôi nhập ngũ năm 2011, được phân công vào đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ. Tháng 10/2012 trong lúc đang làm nhiệm vụ khảo sát địa hình để tìm mộ ở vùng không thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tôi bị rắn cắn phải cưa chân. Vậy tôi có được xem xét để giải quyết chế độ thương binh không?

Trả lời: Hiện nay, Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng được sửa đổi bổ sung đã quy định việc xem xét xác nhận thương binh đối với người bị thương trong trường hợp đang trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ do cơ quan có thẩm quyền giao. Theo đó, trường hợp bị thương của ông thuộc diện xem xét xác nhận thương binh.

Câu 66. Em tôi làm thợ mộc tại gia đình. Cuối năm 2012, khi đang đi xe máy trên đường thấy bọn cướp giật túi xách nên em tôi đã đâm xe máy vào xe kẻ cướp để chặn bắt chúng, do vậy bị ngã gẫy tay. Vậy em tôi có được xem xét để xác nhận người hưởng chính sách như thương binh không?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013, trường hợp trực tiếp tham gia đấu tranh chống lại hoặc ngăn chặn các hành vi gây nguy hiểm cho xã hội thuộc các tội được quy định trong Bộ luật Hình sự thuộc diện xem xét xác nhận thương binh, người hưởng chính sách như thương binh.

Theo quy định trên, trường hợp em của ông bị thương trong khi trực tiếp chống cướp giật, thuộc diện xem xét xác nhận người hưởng chính sách như thương binh.

Câu 67. Tôi đang thực hiện nghĩa vụ công an, vào ngày được nghỉ tôi đang đi chơi với bạn thì thấy có 2 thanh niên vượt đèn đỏ bị cảnh sát giao thông chặn giữ đang cầm gậy sắt tấn công đồng chí cảnh sát giao thông. Tôi đến can ngăn thì bị chúng vụt gậy gãy xương bả vai, sau đó chạy mất. Vậy tôi có được hưởng chế độ gì không? Nếu được thì thủ tục hồ sơ như thế nào?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013, trường hợp trực tiếp tham gia đấu tranh chống lại hoặc ngăn chặn các hành vi gây nguy hiểm cho xã hội thuộc các tội được quy định trong Bộ luật Hình sự thuộc diện xem xét xác nhận và giải quyết chế độ ưu đãi.

Theo qui định trên, trường hợp ông bị thương trong khi trực tiếp ngăn chặn hành động chống người thi hành công vụ nên thuộc diện xem xét xác nhận thương binh.

 Về thủ tục hồ sơ, đề nghị ông liên hệ với cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý để được xác lập hồ sơ giải quyết chế độ theo thẩm quyền.

Câu 68. Tôi tham gia nghĩa vụ quân sự tháng 9 năm 2012, tháng 11/2012 khi huấn luyện chiến đấu bắn đạn thật, một đồng chí sơ ý làm cướp cò súng khiến tôi bị thương. Vậy tôi có được xem xét giải quyết chế độ thương binh không?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013, trường hợp trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu bắn đạn thật mà bị thương thì thuộc diện được xem xét xác nhận là thương binh.

Câu 69. Tôi là cảnh sát phòng cháy-chữa cháy, đầu năm 2013 khi tham gia diễn tập chữa cháy ở nhà cao tầng tôi bị ngã từ tầng 2 xuống gãy chân. Ngoài chế độ tai nạn lao động đã hưởng tôi có được hưởng thêm chế độ nào nữa không?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013, trường hợp trực tiếp tham gia diễn tập chữa cháy mà bị thương thì thuộc diện được xem xét xác nhận và giải quyết chế độ ưu đãi đối với thương binh.

Câu 70. Tôi là bộ đội đặc công, trong khi huấn luyện võ thuật đối kháng bị đồng đội sơ ý làm gãy chân. Vậy tôi có được giải quyết chế độ thương binh không?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 trường hợp trực tiếp làm nhiệm vụ huấn luyện đặc công mà bị thương thì thuộc diện được xem xét xác nhận và giải quyết chế độ ưu đãi đối với thương binh.

Câu 71. Tôi trước đây là bộ đội, bị thương ở chiến trường K năm 1979 nhưng do thất lạc giấy tờ nên chưa làm chế độ. Nay tôi tìm lại được cuốn lý lịch quân nhân năm 1980 có ghi bị sức ép. Vậy tôi có được xem xét xác nhận thương binh không?

Trả lời: Về trường hợp này, Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2013 của Bộ Lao đông-Thương binh và Xã hội đã hướng dẫn: “Đối với trường hợp bị thương từ ngày 31/12/1994 trở về trước, căn cứ cấp giấy chứng nhận bị thương cần phải có một trong các giấy tờ ghi nhận có vết thương thực thể:

a) Giấy tờ được cấp khi bị thương: phiếu chuyển thương, chuyển viện; bệnh án điều trị; giấy ra viện; phiếu sức khỏe; sổ sức khỏe của đơn vị cấp;

b) Lý lịch cán bộ; lý lịch đảng viên; lý lịch quân nhân được lập trước ngày 31/12/1994”.

Căn cứ quy định trên, do lý lịch quân nhân chỉ ghi sức ép nên không đủ căn cứ để cấp giấy chứng nhận bị thương, xác nhận thương binh.

Câu 72. Trước đây tôi hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù ở khám lớn Sài gòn, tôi đã được hưởng chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày. Tuy nhiên trong thời gian ở tù tôi bị địch đánh gãy tay (có ghi trong lý lịch Đảng).Vậy tôi có được xem xét xác nhận và giải quyết chế độ thương binh nữa không?

Trả lời: Theo quy định của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng được sửa đổi bổ sung, trường hợp bị thương do bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh, để lại thương tích thực thể thì được xem xét xác nhận và giải quyết chế độ thương binh.

Câu 73. Tôi là công nhân thuộc công ty liên doanh khai thác gỗ được cử sang nước bạn Lào để khai thác gỗ. Trong lúc đang làm việc, không may bị cây đổ đè gãy chân. Tôi nghe nói những trường hợp đi làm nghĩa vụ quốc tế mà bị thương trong khi làm nhiệm vụ được xác nhận là thương binh. Trường hợp của tôi có được xem xét xác nhận người hưởng chính sách như thương binh không?

Trả lời: Theo qui định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 thì người làm nghĩa vụ quốc tế là người được Nhà nước, quân đội, công an giao thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở nước ngoài.

Nghị định này cũng quy định trường hợp bị thương trong khi học tập, tham quan, du lịch, an dưỡng, chữa bệnh, thăm viếng hữu nghị; làm việc theo hợp đồng kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hoá, giáo dục, lao động thì không thuộc diện xem xét xác nhận là thương binh.

Theo quy định nêu trên, trường hợp bị thương của ông không thuộc diện xem xét xác nhận người hưởng chính sách như thương binh.

Câu 74. Tôi là công an giao thông, bị thương khi chặn xe máy vi phạm luật giao thông (không đội mũ bảo hiểm) thì bị xe máy tông vào làm bị thương. Vậy tôi có được xem xét xác nhận là thương binh không?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013, trường hợp trực tiếp tham gia đấu tranh chống lại hoặc ngăn chặn các hành vi gây nguy hiểm cho xã hội thuộc các tội được quy định trong Bộ luật Hình sự thuộc diện xem xét xác nhận là thương binh hoặc người hưởng chính sách như thương binh.

 Lỗi đi xe máy không đội mũ bảo hiểm là hành vi vi phạm hành chính, chưa phải là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội thuộc các tội được quy định trong Bộ luật Hình sự. Do vậy trường hợp bị thương của ông không thuộc diện xem xét xác nhận thương binh.

Câu 75. Tôi bị thương trong khi chiến đấu ở chiến trường miền Nam năm 1975, đến tháng 4 năm 2013 mới được giám định thương tật và xác nhận là thương binh. Tôi nghe nói kể từ ngày 01/9/2012 thương binh được hưởng trợ cấp kể từ tháng liền kề khi bị thương. Tôi có được hưởng chế độ từ khi bị thương không?

Trả lời: Theo quy định trước đây, thương binh được hưởng chế độ ưu đãi kể từ ngày Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền kết luận tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật từ 21% trở lên.

Theo quy định hiện hành tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013, người bị thương trước ngày Pháp lệnh có hiệu lực được hưởng trợ cấp hàng tháng từ ngày 01 tháng 01 năm 2013, không phụ thuộc vào thời điểm giám định thương tật.

Trường hợp của ông bị thương năm 1972 (trước ngày Pháp lệnh có hiệu lực) nên được hưởng trợ cấp hàng tháng từ ngày 01/01/2013.

Câu 76. Tôi có thời gian tham gia quân đội là 15 năm 9 tháng. Khi ra quân năm 1989 tôi là thương binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật là 24% và đã được cộng tỷ lệ này với tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do bệnh tật để hưởng chế độ bệnh binh suy giảm khả năng lao động do bệnh tật 61%, hiện chỉ  hưởng chế độ trợ cấp bệnh binh. Vậy tôi có được hưởng đồng thời cả chế độ bệnh binh và thương binh không. Nếu được giải quyết thì tôi có được truy lĩnh trợ cấp thương binh không? 

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 thì bệnh binh đồng thời là thương binh có thời gian công tác liên tục trong quân đội, công an từ đủ 15 năm trở lên hoặc chưa đủ 15 năm công tác liên tục trong quân đội, công an nhưng cộng thời gian công tác thực tế trước đó có đủ 20 năm trở lên được hưởng đồng thời trợ cấp thương binh và trợ cấp bệnh binh.

Trường hợp của ông có thời gian công tác liên tục trong quân đội trên 15 năm nên ông được hưởng thêm chế độ thương binh từ ngày Giám đốc Sở Lao đông-Thương binh và Xã hội ra quyết định.

Câu 77. Tôi có thời gian tham gia quân đội là 10 năm 9 tháng. Khi ra quân năm 1986 tôi là thương binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật là 21% và đã được cộng tỷ lệ này với tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do bệnh tật để hưởng chế độ bệnh binh suy giảm khả năng lao động do bệnh tật 66%, hiện tôi chỉ hưởng trợ cấp bệnh binh. Vậy tôi có được hưởng đồng thời cả chế độ bệnh binh và thương binh không? Nếu được giải quyết thì tôi có được truy lĩnh trợ cấp thương binh không? 

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 thì bệnh binh đồng thời là thương binh có thời gian công tác liên tục trong quân đội, công an chưa đủ 15 năm công tác liên tục trong quân đội, công an được hưởng đồng thời cả 2 chế độ nếu sau khi đã trừ tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật mà tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do bệnh tật còn từ 41% trở lên, mức trợ cấp bệnh binh được hưởng theo tỷ lệ suy giảm khả năng lao động đã trừ.

Trường hợp của ông có thời gian công tác liên tục trong quân đội dưới 15 năm nhưng sau khi đã trừ tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật mà tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do bệnh tật còn 45% nên ông được hưởng chế độ trợ cấp của bệnh binh suy giảm khả năng lao động 45% và hưởng thêm chế độ thương binh từ ngày Giám đốc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội ra quyết định.

Câu 78. Tôi có thời gian tham gia quân đội là 10 năm 9 tháng, khi ra quân năm 1989 tôi là bệnh binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động 61% do bệnh tật (biên bản giám định bệnh tật chỉ khám bệnh tật, không khám thương tật), đồng thời là thương binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động 21% do thương tật. Hiện tôi chỉ được hưởng chế độ bệnh binh, vậy tôi có được hưởng đồng thời cả 2 chế độ không. Nếu được giải quyết thì tôi có được truy lĩnh trợ cấp thương binh không? 

Trả lời: Theo qui định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 thì bệnh binh đồng thời là thương binh được hưởng đồng thời cả 2 chế độ nếu đã giám định tách riêng tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do bệnh tật và tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật. Thời điểm hưởng thêm một chế độ trợ cấp được tính từ ngày Giám đốc Sở Lao động- Thương binh và Xã hội ra quyết định trợ cấp.

Câu 79. Tôi có thời gian tham gia quân đội là 10 năm 9 tháng, khi ra quân năm 2008 tôi là bệnh binh suy giảm khả năng lao động 61%. Tháng 01/2013 tôi tham gia bắt kẻ cướp bị chống trả gây thương tích. Vậy tôi có được xác nhận là thương binh và được hưởng đồng thời cả chế độ bệnh binh và thương binh không?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013,  trường hợp trực tiếp tham gia đấu tranh chống lại hoặc ngăn chặn các hành vi gây nguy hiểm cho xã hội thuộc các tội được quy định trong Bộ luật Hình sự thuộc diện xem xét xác nhận là thương binh hoặc người hưởng chính sách như thương binh.

Căn cứ quy định trên, ông thuộc diện được xem xét xác nhận là người hưởng chính sách như thương binh và nếu được kết luận suy giảm khả năng lao động do thương tật từ 21% trở lên thì sẽ được hưởng trợ cấp thương tật kể từ tháng liền kề khi bị thương.

Câu 80. Tôi là công dân bị thương trong khi truy đuổi kẻ cướp, được Hội đồng giám định y khoa kết luận tỷ lệ thương tật 16%. Tôi có được xem xét xác nhận là người hưởng chính sách như thương binh và được giải quyết trợ cấp hàng tháng không (hiện tôi chỉ được hưởng chế độ trợ cấp một lần)?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013,  trường hợp trực tiếp tham gia đấu tranh chống lại hoặc ngăn chặn các hành vi gây nguy hiểm cho xã hội thuộc các tội được quy định trong Bộ luật Hình sự thuộc diện xem xét xác nhận là thương binh hoặc người hưởng chính sách như thương binh nếu được Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền kết luận suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên do thương tật.

Tình trạng thương tật của ông được Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền kết luận suy giảm khả năng lao động do thương tật dưới 21%. Vì vậy ông được hưởng trợ cấp một lần là đúng quy định hiện hành.

Câu 81. Tôi đang hưởng chế độ thương binh, gần đây do vết thương tái phát nên tôi đi khám bệnh và được bệnh viện chụp Xquang phát hiện còn mảnh đạn trong phổi (giám định trước đây chỉ kết luận tôi có vết thương phần mềm ở ngực). Vậy tôi có được giám định lại vết thương để nâng tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật không?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013, người bị thương đã giám định thương tật nhưng còn sót vết thương chưa giám định thì được giám định bổ sung và tổng hợp tỷ lệ suy giảm khả năng lao động để hưởng chế độ ưu đãi.

Câu 82. Tôi là thương binh thời kỳ bảo vệ tổ quốc, hiện là kiểm lâm viên và đang hưởng chế độ trợ cấp đối với thương binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động 31%. Vừa qua khi tham gia truy bắt xe chở gỗ lậu của lâm tặc tôi lại bị thương. Vậy tôi có được hưởng thêm chế độ người hưởng chính sách như thương binh nữa không?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013, người bị thương đã giám định thương tật mà bị thương tiếp thì được giám định bổ sung và tổng hợp tỷ lệ suy giảm khả năng lao động để hưởng chế độ ưu đãi.

Theo quy định trên ông sẽ được được giám định bổ sung và tổng hợp tỷ lệ suy giảm khả năng lao động để hưởng chế độ ưu đãi.

Câu 83. Tôi bị thương năm 1974, được kết luận tỷ lệ thương tật là 19% tạm thời. Hiện nay vết thương tái phát phải đi viện nhiều lần. Vậy tôi có được giám định lại thương tật để hưởng chế độ thương binh không?

Trả lời: theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 người bị thương được kết luận thương tật tạm thời thì sau ba năm được giám định để xác định tỷ lệ thương tật vĩnh viễn.

Câu 84. Tôi là thương binh loại B có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động 76%, gần đây vết thương ổ bụng tái phát gây biến chứng dính tắc ruột phải phẫu thuật. Vậy tôi có được giám định lại thương tật do vết thương cũ tái phát không?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 thì việc giám định lại thương tật do vết thương cũ tái phát chỉ áp dụng đối với thương binh (không áp dụng đối với thương binh loại B).

 

Câu 85. Tôi là thương binh loại A, khi ra quân năm 1976 tôi được hưởng chế độ trợ cấp thương tật đối với thương binh suy giảm khả năng lao động 41%. Năm 2001 do vết thương cũ ở chân tái phát, tôi được đi giám định lại thương tật và hưởng chế độ đối với thương binh suy giảm khả năng lao động 61%. Vừa qua vết thương ở chân lại tái phát và tôi phải vào bệnh viện phẫu thuật đoạn chi. Vậy tôi có được giám định lại thương tật do vết thương cũ tái phát không?

Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 thì không áp dụng việc giám định lại thương tật do vết thương cũ tái phát đối với thương binh đã được giám định lại thương tật do vết thương cũ tái phát.

Câu 86. Bố tôi là thương binh hạng 2/4 có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động 76% chết tháng 6/1996. Tôi đã được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng đến năm đủ 18 tuổi (năm 2002). Tháng 10/2012 vừa qua tôi bị tai nạn giao thông liệt nửa người, không còn khả năng tự kiếm sống. Vậy tôi có được hưởng lại trợ cấp tuất hàng tháng của bố tôi hay không?

Trả lời: theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 thì thương binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động 61% trở lên từ trần mà con của họ bị khuyết tật nặng, khuyết tật đặc biệt nặng sau khi đủ 18 tuổi nếu suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, không có thu nhập hàng tháng hoặc thu nhập hàng tháng thấp hơn 0,6 lần mức chuẩn thì được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng.

Câu 87. Bố tôi là thương binh hạng 2/4 có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động 66% chết tháng 6/2006. Sau đó tôi và bà tôi được hưởng chế độ trợ cấp tuất hàng tháng nhưng mẹ tôi lại không được hưởng. Cơ quan chức năng trả lời là vào thời điềm bố tôi mất mẹ tôi chưa đến 55 tuổi. Năm 2009 mẹ tôi đủ điều kiện hưởng nhưng vẫn không được giải quyết vì cơ quan chức năng lại trả lời rằng việc xem xét giải quyết chế độ tuất chỉ thực hiện vào thời điểm bố tôi mất, nếu lúc đó đủ điều kiện thì giải quyết, còn nếu chưa đủ điều kiện thì sẽ không giải quyết nữa, kể cả sau này đã đủ điều kiện. Nhưng tôi nghe nói theo quy định mới thì mẹ tôi vẫn thuộc diện hưởng chế độ trợ cấp tuất, vậy nếu được hưởng thì mẹ tôi có được truy lĩnh trợ cấp tuất từ khi đủ điều kiện hưởng không?

Trả lời: Theo quy định trước đây, khi thương binh suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên chết, nếu bố, mẹ, vợ của thương binh đã đến tuổi 60 đối với nam, 55 tuổi đối với nữ thì được hưởng chế độ trợ cấp tuất hàng tháng. Việc xem xét giải quyết chế độ này chỉ thực hiện vào thời điểm thương binh từ trần.

Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 đã quy định: Khi thương binh chết mà cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng chưa đủ 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ thì được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng khi đủ 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ;

Trường hợp thương binh chết trước ngày 01/01/2013 thân nhân được hưởng trợ cấp tiền tuất như sau:

Đến ngày 01/01/2013 mà cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng thương binh chưa đủ 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ thì được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng khi đủ 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ; trường hợp đã đủ 60 tuổi trở lên đối với nam, 55 tuổi trở lên đối với nữ thì được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng kể từ ngày 01/01/2013.

Theo quy định trên, trường hợp mẹ của ông sẽ được hưởng tiền tuất kể từ ngày 01/01/2013.

Câu 88. Chồng tôi là thương binh có tỷ lệ thương tật 67% từ trần tháng 12/2012, lúc tôi 52 tuổi. Vậy tôi có được hưởng chế độ trợ cấp tuất không?

Trả lời: Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 đã qui định: Khi thương binh chết mà cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng chưa đủ 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ thì được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng khi đủ 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ.

Theo quy định trên, trường hợp của bà sẽ được hưởng trợ cấp tiền tuất khi bà đủ 55 tuổi.

Câu 89. Chồng tôi đã mất từ lâu, chúng tôi có 01 con trai là thương binh suy giảm khả năng lao động 65% và một người con gái đã đi lấy chồng xa, gia đình thuộc hộ nghèo đang hưởng trợ cấp theo chế độ bảo trợ xã hội. Đầu năm 2013  người con là thương binh đã từ trần. Hiện tại tôi đã 75 tuổi và đang sống một mình. Tôi có được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng và trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng không? được hưởng từ khi nào?

Trả lời: Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 đã quy định: Khi thương binh chết mà cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng đủ 60 tuổi đối với nam, 55 tuổi đối với nữ thì được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng. Nếu sống cô đơn không nơi nương tựa (sống độc thân, không có hoặc không còn thân nhân) thì được hưởng thêm trợ cấp tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng.

Trường hợp của bà hiện nay đang sống một mình nhưng còn người con gái, do vậy bà không thuộc diện hưởng thêm trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng.

Câu 90. Tôi năm nay trên 70 tuổi, là cán bộ hưu trí, đang hưởng chế độ hưu và trợ cấp tiền tuất hàng tháng của chồng là liệt sĩ. Tháng 11 năm 2012 con tôi là thương binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động 61% từ trần. Vậy tôi có được hưởng thêm suất trợ cấp tiền tuất hàng tháng của thương binh từ trần không và được hưởng từ khi nào?

Trả lời: Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 đã qui định:

Thân nhân của một liệt sĩ đồng thời là thân nhân của hai người có công từ trần trở lên hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng của một liệt sĩ và trợ cấp tiền tuất hàng tháng của một người có công từ trần.

Trường hợp thương binh chết trước ngày 01 tháng 01 năm 2013 thân nhân được hưởng trợ cấp tiền tuất như sau:

Đến ngày 01 tháng 01 năm 2013 mà cha đẻ, mẹ đẻ; vợ hoặc chồng thương binh đã đủ 60 tuổi trở lên đối với nam, 55 tuổi trở lên đối với nữ thì được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2013.

Căn cứ quy định trên, trường hợp của bà được hưởng thêm trợ cấp tiền tuất hàng tháng của thương binh suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên từ trần. Thời điểm hưởng từ ngày 01/01/2013.

Câu 91. Tôi có chồng và 1 con là liệt sĩ, hiện đang hưởng chế độ tuất liệt sĩ. Tháng 4/2013 một con trai nữa của tôi là thương  binh tỷ lệ thương tật 76% cũng đã từ trần. Vậy tôi có được hưởng thêm tuất trợ cấp hàng tháng của thương binh suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên từ trần nữa không?

Trả lời: Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng của Chính phủ đã quy định:Thân nhân của hai liệt sĩ trở lên đồng thời là thân nhân của người có công từ trần chỉ hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng đối với thân nhân liệt sĩ.”.

Theo đó, trường hợp của bà đã được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng của 2 liệt sĩ thì sẽ không hưởng trợ cấp tuất hàng tháng của thương binh suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên từ trần.

Câu 92. Bố tôi là thương binh có tỷ lệ thương tật 68% đã từ trần từ lâu. Năm nay tôi 65 tuổi đang hưởng trợ cấp lương hưu hàng tháng 3.500.000đồng. Vừa qua, do tai biến mạch máu não tôi bị liệt nửa người, thuộc diện bị khuyết tật đặc biệt nặng. Vậy tôi có được hưởng thêm trợ cấp tiền tuất đối với con thương binh từ trần không?

Trả lời: Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 đã quy định: “Con nếu bị khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng sau khi đủ 18 tuổi, suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên mà không có thu nhập hàng tháng hoặc có thu nhập hàng tháng nhưng thấp hơn 0,6 lần mức chuẩn được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng kể từ ngày có kết luận của Hội đồng Giám định y khoa”.

Căn cứ quy định trên, trường hợp của ông bị khuyết tật đặc biệt nặng khi đã 65 tuổi và có nguồn thu nhập hàng tháng  (trợ cấp lương hưu 3.500.000đồng/tháng) cao hơn 0,6 lần mức chuẩn nên không thuộc diện hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng của thương binh suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên từ trần.

Câu 93. Tôi là thương binh, do hoàn cảnh kinh tế nên đã ra nước ngoài sinh sống hợp pháp, nay tôi trở về nước sinh sống thì có được hưởng lại chế độ trợ cấp và được truy lĩnh khoản trợ cấp trước đây hay không?

Trả lời: Theo hướng dẫn tại Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2013  của Bộ Lao đông-Thương binh và Xã hội thì trường hợp người có công đang sinh sống ở nước ngoài mà không ủy quyền để người nhận chế độ ưu đãi, nay trở về nước sinh sống thì được hưởng tiếp chế độ ưu đãi.

Trường hợp của ông được hưởng tiếp chế độ trợ cấp thương binh kể từ tháng liền kề khi Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nhận được đề nghị hưởng lại chế độ ưu đãi, không truy trả khoản trợ cấp mà ông không ủy quyền để người nhận trước đây.

Câu 94. Tôi là công dân Việt Nam tham gia kháng chiến bị thương được xác nhận là thương binh và đang hưởng trợ cấp thương tật. Nay tôi được phép của Nhà nước cho sinh sống ở nước ngoài. Tôi có được tiếp tục nhận trợ cấp thương binh không?

Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2013  của Bộ Lao đông-Thương binh và Xã hội đã qui định: “Người có công hoặc thân nhân đang hưởng trợ cấp, phụ cấp ưu đãi nếu không có điều kiện trực tiếp nhận trợ cấp, phụ cấp thì phải lập giấy ủy quyền có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan ngoại giao nơi cư trú.

Giấy ủy quyền có thời hạn 3 tháng đối với người có công hoặc thân nhân hiện đang cư trú trong nước và thời hạn 6 tháng đối với trường hợp đang cư trú ở nước ngoài.

Khi hết thời hạn được ủy quyền, trong thời gian không quá 3 tháng nếu chưa có giấy ủy quyền mới thì Sở Lao động - Thương binh và Xã hội ra quyết định tạm đình chỉ chế độ trợ cấp”.

Như vậy, trường hợp của ông (bà) cần phải lập giấy uỷ quyền theo quy định nêu trên.

Câu 95. Tôi là thương binh có tỷ lệ thương tật 81%, đồng thời là thương binh có vết thương đặc biệt nặng ở cột sống dẫn đến bị liệt 2 chân. Tôi đang hưởng phụ cấp thương tật đặc biệt hàng tháng, vậy tôi có được hưởng thêm phụ cấp thương tật hàng tháng của thương binh có tỷ lệ thương tật 81% không?

Trả lời: Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 đã quy định: “Thương binh bị suy giảm khả năng lao động do thương tật từ 81% trở lên được hưởng phụ cấp hàng tháng.

Trường hợp có vết thương đặc biệt nặng dẫn đến: cụt hoặc liệt hoàn toàn hai chi trở lên; mù hai mắt; rối loạn tâm thần có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, được hưởng phụ cấp đặc biệt hàng tháng mà không hưởng phụ cấp hàng tháng.”

Theo quy định trên, trường hợp của ông (bà) đã được hưởng phụ cấp đặc biệt hàng tháng thì không hưởng phụ cấp hàng tháng.

Câu 96. Bố tôi là thương binh đang hưởng chế độ, phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và bị án phạt 15 năm tù giam năm 2004. Do cải tạo tốt bố tôi được tha tù trước thời hạn, ra tù vào tháng 4/2013. Vậy bố tôi có được hưởng lại chế độ thương binh sau khi đã được ra tù không?

Trả lời: Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 đã quy định: “Người có công với cách mạng đang hưởng chế độ ưu đãi mà phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc phạm tội khác bị phạt tù chung thân thì vĩnh viễn bị đình chỉ hưởng chế độ ưu đãi, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật”.

Căn cứ quy định trên, trường hợp bố của ông (bà) bị vĩnh viễn đình chỉ hưởng chế độ thương binh kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, không được hưởng lại sau khi đã chấp hành xong hình phạt tù.

Câu 97. Tôi là thương binh, bị phạt tù 9 tháng về tội đánh bạc nhưng được hưởng án treo. Tôi có được hưởng chế độ ưu đãi trong thời gian thi hành hình phạt hay không?

Trả lời: Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 đã quy định: “Người có công với cách mạng đang hưởng chế độ ưu đãi mà phạm tội không thuộc các tội xâm phạm an ninh quốc gia, bị phạt tù có thời hạn nhưng không được hưởng án treo thì trong thời gian chấp hàng hình phạt tù bị tạm đình chỉ hưởng chế độ ưu đãi”.

Căn cứ quy định trên, trường hợp của ông (bà) phạm tội nhưng được hưởng án treo nên trong thời gian thi hành án vẫn được hưởng chế độ ưu đãi.

Câu 98. Tôi là thương binh, phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản công dân” và bị Toà án nhân dân tỉnh kết án 9 năm tù giam năm 2006. Trong quá trình cải tạo tốt tôi được đặc xá ra tù trước thời hạn năm 2012. Vậy tôi có được phục hồi chế độ thương binh không và nếu được thì từ khi nào?

Trả lời: Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 đã quy định:Người có công với cách mạng đang hưởng chế độ ưu đãi mà phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc phạm tội khác bị phạt tù chung thân thì vĩnh viễn bị đình chỉ hưởng chế độ ưu đãi, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật”.

Căn cứ quy định trên, trường hợp của ông (bà) thuộc diện bị tạm đình chỉ chế độ thương binh kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, được hưởng lại chế độ căn cứ vào quyết định của cơ quan có thẩm quyền công nhận chấp hành xong hình phạt tù.

Câu 99. Chồng tôi là thương binh hạng 2/4, đồng thời là người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. Tuy nhiên sau khi chồng tôi đã mất, tôi chỉ được hưởng 01 suất trợ cấp tiền tuất hàng tháng của người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 mà không được hưởng thêm trợ cấp tiền tuất của thương binh hạng 2/4 từ trần. Vậy có đúng không?

Trả lời: Nghị định số 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 đã quy định: “ Thân nhân của người có công với cách mạng từ trần thuộc hai đối tượng trở lên quy định tại khoản 1 Điều 2 của Pháp lệnh thì được hưởng trợ cấp tiền tuất của một đối tượng”.

Theo đó, trường hợp của bà được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng của người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 (cao hơn chế độ trợ cấp tiền tuất của thương binh hạng 2/4 từ trần) là đúng theo quy định hiện hành.

 

V. BỆNH BINH

          Câu 100. Tôi nhập ngũ tháng 6/1999, đóng quân ở đảo Bạch Long Vĩ, Hải Phòng. Do mắc bệnh trong thời gian công tác ở đảo nên năm 2003 tôi được điều động về công tác tại văn phòng Bộ Chỉ huy quân sự Thành phố. Đến nay do sức khỏe suy giảm tôi muốn được giải ngũ. Tôi xin hỏi trường hợp của tôi có thể xem xét, xác nhận là bệnh binh không?

          Trả lời: điểm c khoản 1 Điều 33 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP quy định quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh trong trường hợp hoạt động liên tục ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật từ 15 tháng trở lên thì được xem xét xác nhận bệnh binh.

          Địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hiện được xác định theo Thông tư liên tịch số 07/2007/TTLT-BLĐTBXH-BQP-BNV ngày 04/5/2007. Đảo Bạch Long Vĩ có trong danh mục ban hành kèm theo Thông tư, vì vậy trường hợp của bạn được xem xét, xác nhận là bệnh binh.

          Câu 101. Tôi nhập ngũ tháng 8/2006 và đóng quân tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đến tháng 10/2009 thì chuyển công tác về Bộ Quốc phòng tại Hà Nội và mắc bệnh trong thời gian công tác tại Hà Nội. Vậy tôi có được xem xét, xác nhận là bệnh binh không?

          Trả lời: trường hợp của ông không bị mắc bệnh trong thời gian công tác tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không thuộc diện được xem xét, xác nhận là bệnh binh.

          Câu 102. Tôi nhập ngũ tháng 2/1978 và tham gia chiến đấu tại chiến trường Campuchia. Sau khi trở về nước tôi luôn cảm thấy ám ảnh, mất ngủ và đã đi viện điều trị nhiều lần. Năm 1984 tôi xuất ngũ. Mới đây, tháng 3 năm 2010 tôi đi khám và được bệnh viện kết luận mắc bệnh tâm thần do ảnh hưởng  trước đây. Đến tháng 6/2010 tôi đề nghị công nhận bệnh binh nhưng cơ quan chức năng trả lời là đã xuất ngũ quá 3 năm nên không đủ điều kiện công nhận. Vậy tôi xin hỏi cơ quan chức năng trả lời như vậy có đúng không?

          Trả lời: Thời điểm tháng 6/2010, việc xác nhận người có công được thực hiện theo Nghị định số 54/2006/NĐ-CP, tại khoản 7 Điều 17 có quy định việc xác nhận bệnh binh đối với các trường hợp “… đã xuất ngũ nhưng chưa đủ 3 năm mà bệnh cũ tái phát dẫn đến tâm thần”. Cơ quan chức năng trả lời ông (bà) như vậy là đúng quy định của văn bản tại thời điểm đó.

          Ngày 09/4/2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 31/2013/NĐ-CP (có hiệu lực từ 01/6/2013 và thay thế Nghị định số 54/2006/NĐ-CP). Theo quy định tại Nghị định này thì trường hợp đã xuất ngũ mà bệnh cũ tái phát dẫn đến tâm thần được xem xét xác nhận bệnh binh, không phụ thuộc vào thời gian đã xuất ngũ. Vì vậy ông (bà) đủ điểu kiện để xem xét xác nhận bệnh binh.

          Câu 103. Địa phương tôi có trường hợp ông X tham gia quân đội về địa phương từ sau năm 1975, khoảng 10 năm gần đây không rõ lý do gì mà mắc bệnh tâm thần. Gia đình đưa vào viện điều trị thì bệnh viện kết luận bị tâm thần phân liệt nặng (không nhận thức được hành vi) nên đã đưa vào trại tâm thần. Hiện tại gia đình không giữ được giấy tờ gì chứng minh ông X tham gia quân đội và cũng không rõ trường hợp này có phải do bệnh cũ tái phát hay không. Hoàn cảnh gia đình ông hết sức khó khăn. Vậy xin hỏi trường hợp ông X có thể được xác nhận bệnh binh không?

          Trả lời: theo quy định tại khoản 2 Điều 25 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP thì thủ tục, hồ sơ xác nhận bệnh binh đối với trường hợp sau khi xuất ngũ bị tâm thần làm mất năng lực hành vi đã được đơn giản hóa. Về quá trình tham gia quân đội và đã phục viên, xuất ngũ chỉ cần căn cứ vào xác nhận của Ban CHQS cấp huyện. Về bệnh tật chỉ cần bệnh án hiện tại của bệnh viện cấp tỉnh trở lên kết luận bị tâm thần làm mất năng lực hành vi. Vì vậy ông X đủ điểu kiện để xem xét xác nhận bệnh binh

          Câu 104. UBND xã nhận được hồ sơ đề nghị công nhận bệnh binh của ông A, đã xuất ngũ từ năm 2001 nay bệnh cũ tái phát dẫn đến tâm thần. Tuy nhiên trong lý lịch thể hiện ông vừa tham gia quân đội vừa tham gia công an, cụ thể là từ tháng 6/1989 đến tháng 02/1997 là chiến sỹ thuộc Bộ CHQS tỉnh, từ tháng 03/1997 chuyển về công tác trong một đơn vị thuộc Công an tỉnh đến tháng 01/2001 xuất ngũ. Vậy xin hỏi trường hợp này theo quy định tại Điều 26 Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH thì UBND xã phải chuyển hồ sơ đến cơ quan quân đội hay công an?

          Trả lời: Cơ quan có thẩm quyền xem xét, xác nhận bệnh binh là cơ quan cuối cùng trước khi đối tượng xuất ngũ. Vì vậy trường hợp này UBND xã cần gửi hồ sơ tới cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Bộ Công an.

 

          Câu 105. Tôi tham gia quân đội đến năm 1977 về nghỉ chế độ mất sức lao động do suy giảm khả năng lao động 61%. Nay chế độ của tôi do cơ quan BHXH chi trả. Tôi thấy một số anh em cùng đi với tôi hưởng chế độ bệnh binh thì trợ cấp cao hơn. Vậy tôi muốn đề nghị được chuyển sang hưởng chế độ bệnh binh có được hay không. Nếu được thì thủ tục phải làm thế nào?

          Trả lời: Việc chuyển từ chế độ MSLĐ sang hưởng chế độ bệnh binh trước đây được thực hiện theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 236/HĐBT ngày 18/9/1985 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Tuy nhiên Nghị định đã hết hiệu lực thi hành, vì vậy các trường hợp đang hưởng MSLĐ thì không chuyển sang hưởng chế độ bệnh binh.

          Câu 106. Tôi hưởng chế độ bệnh binh từ năm 1986 với tỷ lệ suy giảm khả năng lao động 51%, đến 1989 tôi được đi giám định lại và Hội đồng giám định y khoa kết luận tỷ lệ suy giảm khả năng lao động của tôi là 71%. Tuy nhiên cho đến nay Sở LĐTBXH vẫn chỉ giải quyết chế độ bệnh binh cho tôi theo mức suy giảm KNLĐ 51% (bệnh binh 3). Tôi xin hỏi việc giải quyết chế độ của Sở LĐTBXH như vậy có đúng không?

          Trả lời: Việc định kỳ giám định lại sức lao động (2 năm một lần) theo quy định tại điểm 1 Mục IV Thông tư số 48/TBXH ngày 30/9/1985 của Bộ Thương binh và Xã hội là để xác định xem bệnh binh đó còn đủ điều kiện hưởng trợ cấp hàng tháng nữa hay không. Không có quy định về giám định lại để điều chỉnh trợ cấp đối với bệnh binh. Vì vậy Sở LĐTBXH vẫn giải quyết cho bác hưởng chế độ theo biên bản giám định lần đầu (51%) là đúng theo quy định.

          Câu 107. Sở LĐTBXH tiếp nhận hồ sơ của ông Y đề nghị giải quyết trợ cấp tuất bệnh binh. Ông Y đã 30 tuổi và bị khuyết tật nặng do tai nạn giao thông từ năm 2010. Nay ông xuất trình cả biên bản giám định tỷ lệ suy giảm khả năng LĐ do tai nạn giao thông trước đây, trong đó kết luận ông Y bị suy giảm KNLĐ 61%. Trường hợp này có phải giới thiệu đi giám định nữa không ?

          Trả lời: Trường hợp này Sở LĐTBXH vẫn giới thiệu ra Hội đồng GĐYK để kết luận tỷ lệ suy giảm KNLĐ do bị khuyết tật (không dùng biên bản giám định tỷ lệ suy giảm KNLĐ do tai nạn giao thông trước đây).

          Câu 108. Chồng tôi là bệnh binh 61%, ông mất năm 2003, khi đó tôi 51 tuổi nên không được hưởng tuất. Đến năm 2007 tôi đủ 55 tuổi nhưng Sở LĐTBXH trả lời là vào thời điểm chồng mất, nếu tôi chưa đủ 55 tuổi thì sau này không được hưởng tiền tuất nữa. Tôi xin hỏi trường hợp của tôi có được hưởng chế độ tuất bệnh binh không, nếu được thì từ thời điểm nào ?

          Trả lời: Theo quy định tại Điều 37 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP thì khi bệnh binh mất, nếu vợ chưa đủ 55 tuổi thì phải chờ đến khi đủ tuổi quy định (tuất chờ). Trường hợp bệnh binh đã chết và đến 01/01/2013 vợ đã đủ 55 tuổi thì được hưởng trợ cấp tiền tuất từ ngày 01/01/2013.

 

VI. NGƯỜI HOẠT ĐỘNG KHÁNG CHIẾN

BỊ NHIỄM CHẤT ĐỘC HÓA HỌC

          Câu 109. Khoản 2 Điều 27 Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH có quy định: “Giấy tờ khác chứng minh có tham gia hoạt động kháng chiến tại vùng mà quân đội Mỹ sử dụng CĐHH được xác lập từ ngày 30/4/1975 trở về trước” Vậy giấy tờ khác ở đây được hiểu như thế nào? Những thư từ của chiến sỹ đi B viết về cho gia đình từ trước 30/4/1975 có được coi là giấy tờ khác hay không?

          Trả lời: “Giấy tờ khác” là các văn bản, tài liệu, sổ sách, chứng nhận, xác nhận, khen thưởng v.v… được lập từ trước 30/4/1975, có giá trị pháp lý của cơ quan, đơn vị đã cấp, tặng hoặc giao cho cá nhân hoặc được lưu giữ tại các cơ quan có thẩm quyền, trong đó có thể hiện hoặc chứng minh được cá nhân đã tham gia hoạt động tại vùng quân đội Mỹ sử dụng CĐHH. Đối với các giấy tờ viết tay của cá nhân như xác nhận, biên nhận, thư từ .v.v… dù có ghi thời điểm lập trước 30/4/1975 thì cũng không được coi là căn cứ để giải quyết chế độ người HĐKC bị nhiễm CĐHH.

          Câu 110. Sở LĐTBXH nhận được hồ sơ của ông A đề nghị công nhận người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Tuy nhiên trong lý lịch quân nhân của ông chỉ ghi: từ tháng 05/1971 đến tháng 12/1972 là chiến sỹ thuộc C7-D9… chiến đấu tại Quảng Trị. Không thể hiện rõ có hoạt động tại vùng bị rải CĐHH hay không. Trường hợp này có thể xem xét hay không?

          Trả lời: Theo Nghị định số 31/2013/NĐ-CP thì riêng địa bàn tỉnh Quảng Trị có khu vực được coi là vùng bị quân đội Mỹ sử dụng CĐHH (phía nam sông Bến Hải và 10 xã thuộc huyện Vĩnh Linh tiếp giáp bờ bắc sông Bến Hải). còn các xã, huyện khác không được coi là vùng bị quân đội Mỹ sử dụng CĐHH. Tuy nhiên, việc áp dụng trong thực tế không thể hoàn toàn cứng nhắc. Đối với địa bàn huyện Vĩnh Linh, nếu là cán bộ xã, dân quân, du kích … thì phải thuộc một trong 10 xã quy định trong Nghị định. Đối với các trường hợp tham gia quân đội như đã nêu ở trên thì lý lịch quân nhân thường chỉ ghi đến cấp tỉnh mà không cụ thể đến huyện, xã. Do đó chỉ cần lý lịch ghi tỉnh Quảng Trị là đủ điều kiện xem xét.

          Câu 111. khi giới thiệu người HĐKC bị nhiễm CĐHH đi giám định theo quy định tại điểm c khoản 6 Điều 42 Nghị định thì giới thiệu những bệnh nào? Có phải bổ sung bệnh án hiện tại thể hiện mắc bệnh theo QĐ 09/2008/QĐ-BYT không?

          Trả lời: Việc giới thiệu Người HĐKC bị nhiễm CĐHH đi giám định theo quy định tại điểm c khoản 6 Điều 42 Nghị định chỉ áp dụng đối với các trường hợp trước đây đang hưởng trợ cấp mức 2 (cũ) và chưa được kết luận tỷ lệ suy giảm KNLĐ, chủ yếu là các đối tượng lập hồ sơ theo Quyết định số 26/2000/QĐ-TTg và Quyết định số 120/2004/QĐ-TTg. Những đối tượng này trước đây giao cho y tế cấp xã và y tế cấp huyện xác nhận về bệnh tật. Khi giới thiệu đi giám định Sở phải đối chiếu hồ sơ, lập trích lục ghi rõ những bệnh đã được cơ quan y tế xác nhận trong hồ sơ trước đây (những hồ sơ lập trước khi Thông tư số 08/2009/TT-BLĐTBXH có hiệu lực thì không áp dụng danh mục bệnh, tật theo Quyết định số 09/2008/QĐ-BYT). Tuyệt đối không yêu cầu đối tượng bổ sung bệnh án hay giấy ra viện mới cấp sau này.

          Câu 112. Người HĐKC bị nhiễm CĐHH đề nghị đi giám định theo quy định tại điểm c khoản 6 Điều 42 Nghị định nhưng trong hồ sơ trước đây cơ quan y tế không xác nhận một loại bệnh cụ thể nào (chỉ xác nhận chung chung là bệnh tật, ốm yếu, suy giảm KNLĐ) thì xử lý ra sao?

          Trả lời: trường hợp hồ sơ không ghi bệnh tật làm căn cứ để giới thiệu đi giám định thì không thực hiện giới thiệu đi giám định theo đề nghị của đối tượng.

          Câu 113. Tôi là người HĐKC bị nhiễm CĐHH đang hưởng trợ cấp mức 2 và chưa được kết luận tỷ lệ suy giảm KNLĐ do bệnh tật. Sau ngày 31/12/2013 tôi sẽ phải chuyển sang hưởng trợ cấp của người suy giảm KNLĐ từ 41-60%. Tôi có nguyện vọng được giám định để hưởng mức trợ cấp cao hơn nhưng vẫn băn khoăn không biết liệu có thể bị giảm hay cắt trợ cấp không ?

          Trả lời: Theo quy định của Nghị định số 31/2013/NĐ-CP và Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH, sau khi có kết quả giám định Sở LĐTBXH phải điều chỉnh trợ cấp theo kết quả giám định đó. Trường hợp tỷ lệ suy giảm KNLĐ từ 21 đến 40% thì ông (bà) sẽ bị điều chỉnh giảm trợ cấp. Nếu tỷ lệ dưới 21% sẽ bị cắt trợ cấp. Vì vậy ông (bà) cần cân nhắc kỹ trước khi đề nghị được đi giám định. Đặc biệt đối với trường hợp trước đây trong hồ sơ chỉ thể hiện một vài bệnh nhẹ, không rõ ràng như: bệnh ngoài da, mẩn ngứa, rụng tóc, tê bì chân tay v.v... thì không nên đi giám định.

          Câu 114. Người HĐKC bị nhiễm CĐHH sinh con dị dạng, dị tật hoặc vô sinh, trước đây đang hưởng trợ cấp mức 2 (cũ) nhưng chưa được kết luận tỷ lệ suy giảm KNLĐ. Sau khi chuyển sang hưởng mức 3 (mới) và họ có nguyện vọng được giám định thì xử lý thế nào và điều chỉnh trợ cấp ra sao?

          Trả lời: Người đang hưởng trợ cấp mức 2 (cũ), sinh con dị dạng, dị tật hoặc vô sinh; đồng thời hồ sơ trước đây đã được cơ quan y tế xác nhận có mắc bệnh, tật cụ thể thì vẫn giới thiệu đi giám định. Trường hợp Hội đồng giám định kết luận tỷ lệ suy giảm KNLĐ dưới 61% hoặc kết luận không mắc bệnh thì vẫn xếp hưởng theo mức của người suy giảm KNLĐ từ 41-60%.

          Trường hợp sinh con dị dạng, dị tật hoặc vô sinh mà hồ sơ trước đây không thể hiện một loại bệnh cụ thể nào, thì ấn định hưởng trợ cấp theo mức của người suy giảm KNLĐ từ 41-60% và không giới thiệu đi giám định.

          Câu 115. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 31 Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH thì thương binh suy giảm KNLĐ từ 80% trở lên sẽ không được hưởng thêm chế độ người HĐKC bị nhiễm CĐHH. Vậy các trường hợp thương binh có tỷ lệ thương tật 80% trở lên đã hưởng chế độ người HĐKC bị nhiễm CĐHH từ trước, nay xử lý ra sao?

          Trả lời: Quy định này chỉ áp dụng đối với trường hợp lập hồ sơ từ ngày 01/6/2013 trở về sau. Đối với trường hợp trước đây đang hưởng 2 chế độ thì vẫn chuyển hưởng 2 chế độ theo quy định.

          Câu 116. Trường hợp thương binh, bệnh binh đã lập hồ sơ người HĐKC bị nhiễm CĐHH theo Thông tư số 08/2009/TT-BLĐTBXH và được Hội đồng giám định y khoa kết luận tỷ lệ suy giảm KNLĐ 81% do CĐHH thì sau ngày 31/12/2013 chuyển hưởng thế nào? Có được hưởng trợ cấp người HĐKC bị nhiễm CĐHH suy giảm KNLĐ 81% không?

          Trả lời: Theo hướng dẫn của Thông tư số 08/2009/TT-BLĐTBXH thì thương binh, bệnh binh không phải giám định tỷ lệ suy giảm KNLĐ do CĐHH. Vì vậy, nếu Hội đồng GĐYK kết luận cả tỷ lệ suy giảm KNLĐ là không đúng theo quy định và không có giá trị thực hiện.

          Đối với các trường hợp này theo quy định tại Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH thì sau ngày 31/12/2013 vẫn hưởng trợ cấp thương binh hoặc bệnh binh. Đối với trợ cấp CĐHH sẽ chuyển sang hưởng theo mức của người suy giảm KNLĐ từ 41% - 60% như các trường hợp chưa được kết luận tỷ lệ suy giảm KNLĐ.

          Câu 117. Tôi là thương binh 21% và đồng thời đang hưởng trợ cấp CĐHH mức 2. Sau khi chuyển chế độ CĐHH sang hưởng như người suy giảm KNLĐ từ 41-60% tôi có thể đề nghị được đi giám định để nâng mức trợ cấp CĐHH hay không?

          Trả lời: Trường hợp của ông (bà) có nếu nguyện vọng được giới thiệu đi giám định để nâng mức trợ cấp CĐHH.

          Câu 118. Tôi là thương binh 45% và đồng thời đang hưởng trợ cấp CĐHH mức 2. Sau khi chuyển chế độ CĐHH sang hưởng như người suy giảm KNLĐ từ 41%-60% tôi có thể đề nghị được đi giám định để nâng mức trợ cấp CĐHH hay không?

          Trả lời: Trường hợp thương binh có tỷ lệ thương tật từ 40% trở lên, đã xếp hưởng trợ cấp CĐHH như người suy giảm KNLĐ từ 41%-60% thì không giới thiệu đi giám định vì tỷ lệ suy giảm KNLĐ còn lại do CĐHH không thể vượt quá 60% và không thể nâng mức trợ cấp CĐHH lên cao hơn.

          Câu 119. Tôi là bệnh binh đang hưởng chế độ người HĐKC bị nhiễm CĐHH (2 chế độ). Nay theo quy định mới tôi có phải đi giám định tổng hợp để hưởng chế độ bệnh binh hay không, có bị cắt chế độ người HĐKC bị nhiễm CĐHH hay không ?

          Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 31/2013/NĐ-CP và Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH thì bệnh binh nếu mắc thêm bệnh do CĐHH thì được giám định tổng hợp để hưởng trợ cấp bệnh binh (không hưởng chế độ người HĐKC bị nhiễm CĐHH). Tuy nhiên quy định này chỉ áp dụng đối với trường hợp lập hồ sơ từ ngày 01/6/2013 trở về sau. Đối với người đang hưởng 2 chế độ trước 01/6/2013 thì sau ngày 31/12/2013 chuyển sang hưởng trợ cấp đối với bệnh binh và trợ cấp đối với người HĐKC bị nhiễm CĐHH suy giảm KNLĐ từ 41-60% (mức 3 mới).

          Câu 120. Tôi là bệnh binh 61% đồng thời hưởng trợ cấp CĐHH mức 2 cũ. Sau khi chuyển trợ cấp CĐHH sang hưởng theo mức của người suy giảm KNLĐ từ 41-60% tôi có nguyện vọng đi giám định để nâng trợ cấp CĐHH thì có được không.

          Trả lời: Theo quy định hiện hành thì kể từ 01/6/2013, bệnh binh nếu mắc thêm bệnh do CĐHH được giám định tổng hợp để hưởng trợ cấp bệnh binh (chỉ được hưởng 1 chế độ). Riêng đối với bệnh binh đồng thời là người HĐKC bị nhiễm CĐHH đã hưởng chế độ từ trước, sau thời điểm 31/12/2013 được chuyển hưởng chế độ đối với bệnh binh và trợ cấp CĐHH theo mức của người suy giảm KNLĐ 41-60% (có lợi hơn vì được hưởng 2 chế độ). Vì vậy không giới thiệu bệnh binh đi giám định để nâng trợ cấp CĐHH (trừ trường hợp xin thôi hưởng trợ cấp CĐHH thì được xem xét giới thiệu đi giám định tổng hợp để hưởng trợ cấp bệnh binh ở mức cao hơn).

          Câu 121. Nghị định 31/2013/NĐ-CP và Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH không quy định đối với người đang hưởng chế độ mất sức lao động có được hưởng chế độ người HĐKC bị nhiễm CĐHH hay không. Nay đối tượng MSLĐ làm hồ sơ hưởng chế độ người HĐKC bị nhiễm CĐHH thì xử lý ra sao?

          Trả lời: Nghị định và Thông tư hiện hành không hạn chế việc giải quyết chế độ người HĐKC bị nhiễm CĐHH đối với người hưởng chế độ MSLĐ, vì vậy, các trường hợp đã hoặc đang hưởng MSLĐ vẫn giải quyết chế độ người HĐKC bị nhiễm CĐHH.

          Câu 122. Người đang hưởng chế độ MSLĐ, nay giải quyết thêm chế độ người HĐKC bị nhiễm CĐHH có phải áp dụng nguyên tắc tổng tỷ lệ suy giảm KNLĐ không quá 100% như đối với thương binh đồng thời là người HĐKC bị nhiễm CĐHH không quy định tại điểm c khoản 2 Điều 31 Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH không?

          Trả lời: Mức trợ cấp của đối tượng MSLĐ được tính trên số năm công tác, không tính trên tỷ lệ suy giảm KNLĐ (tỷ lệ suy giảm KNLĐ 61% trở lên chỉ là một trong các điều kiện khi về nghỉ mất sức). Do vậy các đối tượng này khi giải quyết chế độ người HĐKC bị nhiễm CĐHH thì vẫn thực hiện giám định bình thường và thực hiện trợ cấp theo kết quả giám định tỷ lệ suy giảm KNLĐ do CĐHH, không hạn chế mức hưởng.

          Câu 123. Đối tượng MSLĐ đang hưởng trợ cấp người HĐKC bị nhiễm CĐHH mức 2 (cũ) trước khi Nghị định 31 có hiệu lực. Sau khi chuyển sang hưởng theo mức 3 (mới), họ muốn được giám định để hưởng trợ cấp CĐHH cao hơn thì có giải quyết không?

          Trả lời: Những trường hợp này nếu có nguyện vọng đi giám định thì vẫn giải quyết đi giám định và hưởng trợ cấp theo kết luận của Hội đồng giám định y khoa có thẩm quyền.

          Câu 124. Người HĐKC sinh con dị dạng, dị tật, nếu Hội đồng giám định y khoa kết luận người con đó suy giảm KNLĐ dưới 61% thì có giải quyết chế độ cho bố (mẹ) hay không?

          Trả lời: Đối với người HĐKC sinh con dị dạng, dị tật mà không mắc bệnh do CĐHH thì chỉ giới thiệu con đi giám định. Trường hợp Hội đồng GĐYK kết luận người con đó bị dị dạng, dị tật do ảnh hưởng của CĐHH và tỷ lệ suy giảm KNLĐ từ 61% trở lên thì giải quyết chế độ cho cả bố (hoặc mẹ) và con theo quy định.

          Trường hợp Hội đồng kết luận con bị dị dạng, dị tật do ảnh hưởng của CĐHH nhưng tỷ lệ suy giảm KNLĐ dưới 61% hoặc không kết luận tỷ lệ thì chỉ giải quyết chế độ cho bố (mẹ). Trường hợp Hội đồng kết luận con không bị dị dạng, dị tật thì không thực hiện chế độ đối với cả bố (mẹ) và con.

          Câu 125. Trường hợp cha tham gia HĐKC, sinh con dị dạng, dị tật hoặc vô sinh; đồng thời mắc bệnh theo Quyết định số 09/2008/QĐ-BYT thì có giới thiệu người cha đi giám định tỷ lệ suy giảm KNLĐ không?

          Trả lời: Trường hợp người HĐKC bị vô sinh đồng thời mắc thêm bệnh do CĐHH thì vẫn giới thiệu đối tượng đi giám định tỷ lệ suy giảm KNLĐ; trường hợp người cha sinh con dị dạng, dị tật đồng thời mắc bệnh thì giới thiệu cả cha và con đi giám định.

          Câu 126. Trường hợp hồ sơ người tham gia HĐKC thể hiện có sinh con dị dạng, dị tật hoặc vô sinh; đồng thời mắc thêm bệnh theo Quyết định số 09/2008/QĐ-BYT, nếu đi giám định mà Hội đồng GĐYK kết luận không mắc bệnh hoặc tỷ lệ suy giảm KNLĐ dưới 41% thì xử lý thế nào ?

          Trả lời:

          1. Đối với người vô sinh, nếu Hội đồng GĐYK kết luận không mắc thêm bệnh hoặc tỷ lệ suy giảm KNLĐ dưới 41% thì vẫn được hưởng chế độ như người suy giảm KNLĐ từ 41-60%

          2. Đối với người sinh con dị dạng, dị tật và mắc thêm bệnh:

          - Nếu Hội đồng kết luận con không bị dị dạng, dị tật thì bố (mẹ) hưởng trợ cấp theo kết quả giám định về bệnh tật.

          - Nếu Hội đồng kết luận con bị dị dạng dị tật và bố (mẹ) suy giảm KNLĐ từ 41% trở lên thì bố (mẹ) hưởng trợ cấp theo kết quả giám định. Trường hợp bố (mẹ) suy giảm KNLĐ dưới 40% hoặc không mắc bệnh thì hưởng trợ cấp như người suy giảm KNLĐ từ 41 đến 60%.

          Câu 127. Ông X đang hưởng trợ cấp thương binh 21% và trợ cấp bệnh binh 61%. Ông có hoạt động trong vùng bị rải CĐHH và sinh con dị dạng, dị tật. Vậy có được giải quyết chế độ CĐHH không?

          Trả lời: Trường hợp của ông X được xem xét, giải quyết thêm chế độ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm CĐHH theo mức trợ cấp như người bị suy giảm khả năng lao động từ 41%-60%.

          Câu 128. Sở LĐTBXH nhận được hồ sơ của ông Y đề nghị giải quyết chế độ người HĐKC bị nhiễm CĐHH, hồ sơ có khai con đẻ ông Y bị “mẩn ngứa bẩm sinh”. Vậy mẩn ngứa bẩm sinh có phải dị dạng, dị tật hay không? Trong quá trình giải quyết chế độ, Sở áp dụng danh mục bệnh, tật, dị dạng, dị tật quy định tại Thông tư liên tịch số 14/2004/TTLT-BLĐTBXH-BYT-BTC để xem xét dị dạng, dị tật đối với con đẻ người HĐKC bị nhiễm CĐHH có được không?

          Trả lời: Thông tư liên tịch số 14/2004/TTLT-BLĐTBXH-BYT-BTC (hướng dẫn Quyết định số 120/2004/QĐ-TTg) đã hết hiệu lực thi hành. Vì vậy không áp dụng danh mục bệnh, tật, dị dạng, dị tật theo Thông tư liên tịch số 14.

          Hiện nay chưa có danh mục dị dạng, dị tật đối với con đẻ người HĐKC bị nhiễm CĐHH. Đối với trường hợp trên, Sở LĐTBXH giới thiệu đi giám định tình trạng dị dạng, dị tật và tỷ lệ suy giảm KNLĐ, căn cứ kết luận giám định để thực hiện trợ cấp.

          Câu 129. Địa phương tôi có trường hợp cháu X đã được giải quyết chế độ đối với con đẻ người HĐKC bị nhiễm CĐHH theo Quyết định số 26/2000/QĐ-TTg, nay cháu đã đi học đại học và nộp hồ sơ đề nghị hưởng ưu đãi giáo dục theo Thông tư liên tịch số 16 thì có giải quyết không ?

          Trả lời: Theo quy định của Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT/BYT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện Quyết định số 26/2000/QĐ-TTg thì việc xác nhận dị dạng, dị tật đối với con đẻ người HĐKC bị nhiễm CĐHH được thực hiện theo phương pháp “thực chứng”, tức là cấp xã xác nhận các dị dạng, dị tật (chủ yếu là dị dạng, dị tật về hình thể, có thể nhìn thấy).

Đồng thời một điều kiện bắt buộc nữa để hưởng chế độ đối với con đẻ người HĐKC bị nhiễm CĐHH (kể cả theo Quyết định số 120/2004/QĐ-TTg) là “không có khả năng lao động”. Việc xác định “không có khả năng lao động, không có khả năng tự lực trong sinh hoạt hoặc suy giảm khả năng tự lực trong sinh hoạt” cũng được cấp xã xác nhận bằng thực chứng (không giới thiệu đối tượng ra Hội đồng giám định y khoa).

Vì vậy, trường hợp nêu trên cần được kiểm tra cụ thể, nếu đối tượng vẫn còn khả năng lao động, học tập, công tác bình thường thì phải ra quyết định đình chỉ và thu hồi trợ cấp đã hưởng sai, đồng thời không giải quyết chế độ ưu đãi giáo dục.

 

VII. NGƯỜI HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG HOẶC

HOẠT ĐỘNG KHÁNG CHIẾN BỊ ĐỊCH BẮT TÙ, ĐÀY

          Câu 130. Trường hợp người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày (sau đây gọi tắt là người bị tù đày) đã hưởng trợ cấp một lần trước đây, nay làm bản khai để hưởng trợ cấp hàng tháng nhưng hiện Sở chỉ còn lưu được danh sách chi trả trợ cấp tù đày một lần, vậy có thể giải quyết trợ cấp hàng tháng được không?

          Trả lời: Theo quy định tại Điều 33 Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH thì để giải quyết trợ cấp tù đày hàng tháng đối với trường hợp đã hưởng trợ cấp một lần phải căn cứ vào hồ sơ hoặc quyết định trợ cấp một lần trước đây. Không căn cứ danh sách chi trả để giải quyết trợ cấp hàng tháng.

          Câu 131. Trường hợp ông X bị địch bắt tù đày, tra tấn, đã được giải quyết chế độ thương binh do các vết thương trong thời gian ở tù, nay ông đề nghị giải quyết thêm chế độ tù đày hàng tháng có được không ?

          Trả lời: Trường hợp này nếu có đủ hồ sơ theo quy định tại Điều 33 Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2013 thì vẫn được xem xét, giải quyết thêm chế độ tù đày hàng tháng.

          Câu 132. Ông Nguyễn Văn H hiện đang cư trú tại tỉnh V, sinh năm 1932, nhập ngũ tháng 5 năm 1953 Đoàn 77 C55. Trong lý lịch quân nhân  của ông H có ghi: “Đánh ở Điện Biên Phủ (ở C18 D16 E141) đánh đồi 105 bị địch bắt mang vào Mường Thanh 10 ngày bị đánh đập nhưng không cung khai”. Trường hợp ông H có đủ điều kiện xem xét giải quyết chế độ người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày không?

          Trả lời: Đối với trường hợp của ông H được xem xét, giải quyết chế độ người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày.

 

VIII.  NGƯỜI HOẠT ĐỘNG KHÁNG CHIẾN GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, BẢO VỆ TỔ QUỐC VÀ LÀM NGHĨA VỤ QUỐC TẾ, NGƯỜI CÓ CÔNG GIÚP ĐỠ CÁCH MẠNG

 

          Câu 133. Tôi tham gia hoạt động kháng chiến đã được tặng thưởng Huân chương kháng chiến nhưng chưa hưởng trợ cấp 01 lần. Tôi muốn được cấp thẻ bảo hiểm y tế có được không?

          Trả lời: Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 41 Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH thì thủ tục mua bảo hiểm y tế đối với trường hợp đã có Huân, Huy chương chỉ cần đối tượng lập bản khai kèm bản sao Huân, Huy chương kháng chiến. Vì vậy, trường hợp của ông (bà) thuộc đối tượng được cấp thẻ BHYT, không phụ thuộc vào việc đã hưởng trợ cấp một lần hay chưa.

          Câu 134. Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng chỉ ghi người có công giúp đỡ cách mạng là người được tặng…, Huân chương kháng chiến, Huy chương kháng chiến. Tôi muốn hỏi gia đình được tặng Huy chương kháng chiến vì có 3 con tòng quân thì có được hưởng chế độ đối với gia đình có công giúp đỡ cách mạng không?

          Trả lời: Điều 32 Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng quy định: “Người có công giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích giúp đỡ cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm”.

Để hiểu rõ thêm thế nào là lúc khó khăn, nguy hiểm cần tham khảo Điểm 1 Mục II Thông tư số 16/TBXH ngày 11/10/1977 của Bộ Thương binh và Xã hội (nay là Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội): “Những người và gia đình có công với cách mạng là những người và gia đình có công trực tiếp giúp đỡ cách mạng khi chưa giành được chính quyền, hoặc trong vùng bị địch kìm kẹp, khủng bố gắt gao…; sự giúp đỡ này nếu bị lộ sẽ dẫn đến nguy hiểm cho người giúp đỡ cách mạng về tính mạng, tài sản như bị địch bắt bớ, tù đày, sát hại, triệt phá nhà cửa v.v…

          Như vậy, các trường hợp được tặng Huy chương kháng chiến vì có nhiều con tòng quân, vì có thành tích quyên góp, ủng hộ cách mạng về tài sản, tiền bạc; cho mượn nhà ở vùng đã giải phóng v.v… không thuộc đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi đối với người có công giúp đỡ cách mạng theo quy định.

 

          Câu 135. Gia đình tôi được Nhà nước khen tặng Huân chương Kháng chiến do có công giúp đỡ cách mạng, trong danh sách khen tặng có ghi cả tên của bố và mẹ tôi, vậy cả bố mẹ tôi có đồng thời được hưởng chế độ không?

          Trả lời: Khoản 1 Điều 38 Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2013 đã hướng dẫn về thủ tục giải quyết chế độ người có công giúp đỡ cách mạng như sau: “trường hợp Kỷ niệm chương Tổ quốc ghi công hoặc Bằng có công với nước hoặc Huân chương, Huy chương kháng chiến khen tặng cho gia đình, ghi tên nhiều người thì mỗi người lập một bộ hồ sơ riêng”.

          Như vậy, trường hợp của gia đình ông sẽ được xem xét, giải quyết chế độ người có công giúp đỡ cách mạng cho cả 2 người có tên trong Huân chương.

          Câu 136. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, gia đình tôi đã đón nhận và giúp đỡ nhiều cán bộ cách mạng nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào và đã được nước bạn Lào khen thưởng. Vậy gia đình tôi có được hưởng chế độ người có công giúp đỡ cách mạng theo Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng hay không?

          Trả lời: Người có công giúp đỡ cách mạng theo Pháp lệnh là những người đã có thành tích trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Những trường hợp có công đối với các quốc gia khác không thuộc diện xem xét, giải quyết trợ cấp ưu đãi theo Pháp lệnh.

 

IX. QUẢN LÝ VÀ DI CHUYỂN HỒ SƠ

Câu 137. Chú họ tôi là liệt sĩ, hy sinh khi chưa lập gia đình. Hồ sơ liệt sĩ của chú tôi đang được quản lý tại Sở LĐTBXH nơi nguyên quán của liệt sĩ. Tôi được ủy quyền thờ cúng nhưng tôi sống ở địa phương khác. Vậy tôi muốn di chuyển hồ sơ liệt sĩ của chú tôi về địa phương tôi đang cư trú có được không? Tôi cần phải liên hệ cơ quan nào?

Trả lời: Người được ủy quyền thờ cúng liệt sĩ nhưng không thường trú tại nguyên quán của liệt sĩ hoặc địa phương nơi quản lý hồ sơ gốc của liệt sĩ thì được di chuyển hồ sơ liệt sĩ đến nơi cư trú để thực hiện chế độ ưu đãi của nhà nước.

Theo hướng dẫn tại Thông tư số 05/2013/BLĐTBXH ngày 15/5/2013, đề nghị ông (bà) làm đơn theo mẫu quy định tại Thông tư số 05/2013/BLĐTBXH để  Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú xác nhận. Sau đó gửi đơn kèm theo bản sao hộ khẩu hoặc sổ tạm trú tại nơi đang cư trú đến Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nơi quản lý hồ sơ gốc của liệt sĩ để thực hiện việc di chuyển hồ sơ.

Câu 138. Ông nội tôi tên là Nguyễn Văn Tam, hy sinh năm 1953, được xác nhận liệt sĩ năm 1976. Giấy báo tử trận của đơn vị ghi tên là Nguyễn Văn Tam nhưng trích lục hồ sơ liệt sĩ do Sở LĐTBXH đang quản lý lại ghi tên là Nguyễn Văn Cam. Nay gia đình muốn đính chính lại tên liệt sĩ thì cần liên hệ với cơ quan nào?

Trả lời: Về việc sửa đổi thông tin cá nhân trong hồ sơ người có công, Thông tư số 05/2013/BLĐTBXH ngày 15/5/2013 đã hướng dẫn: Cơ quan nào cấp giấy tờ thì cơ quan đó có thẩm quyền sửa đổi.

Vì vậy, ông (bà) đến Sở LĐTBXH nơi đang quản lý hồ sơ liệt sĩ để làm thủ tục đính chính lại thông tin cá nhân.

Câu 139. Cha tôi là liệt sĩ, gia đình tôi hiện không còn người hưởng trợ cấp hàng tháng. Anh trai tôi hiện đang sống tại tỉnh Hà Nam và đang thờ cúng liệt sĩ, tôi đang thường trú tại tỉnh Đắc Nông. Nay tôi có nguyện vọng di chuyển hồ sơ liệt sĩ của cha tôi đến tỉnh Đăk Nông có được không?

Trả lời: Theo hướng dẫn tại Thông tư số 05/2013/BLĐTBXH ngày 15/5/2013 thì hồ sơ gốc hiện đang quản lý tại tỉnh Hà Nam nơi anh ông đang hưởng chế độ thờ cúng liệt sĩ. Vì vậy, không di chuyển hồ sơ liệt sĩ theo nguyện vọng của ông đến tỉnh Đăk Nông.

Câu 140. Cha tôi là liệt sĩ, tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1942 nhưng lịch sử Đảng bộ xã không thể hiện thời điểm tham gia cách mạng, chỉ ghi cha tôi hy sinh năm 1952. Trong hồ sơ liệt sĩ chỉ ghi hy sinh năm 1952. Nay tôi muốn bổ sung thêm thông tin về thời gian tham gia hoạt động cách mạng của bố tôi trong hồ sơ liệt sĩ để có cơ sở giải quyết chế độ người hoạt động cách mạng trước năm 1945.

Trả lời: Thông tư số 05/2013/BLĐTBXH ngày 15/5/2013 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội không quy định việc đính chính thông tin về thời gian tham gia hoạt động cách mạng trong hồ sơ liệt sĩ.

Vì vậy, nếu gia đình có giấy tờ theo quy định tại Khoản 2, Điều 6, Nghị định 31/2013/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2013 của Chính phủ thì liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để giải quyết.

Câu 141. Tôi đang hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng đối với vợ liệt sĩ tái giá tại tỉnh A. nay tôi chuyển đến cư trú tại tỉnh B. Sở LĐTBXH tỉnh A đã cấp giấy giới thiệu di chuyển kèm theo bản sao hồ sơ liệt sĩ nhưng Sở LĐTBH tỉnh B không chấp nhận và yêu cầu hồ sơ liệt sĩ phải là bản gốc, như vậy có đúng không?

Trả lời: Theo hướng dẫn tại Thông tư số 05/2013/BLĐTBXH ngày 15/5/2013 thì chỉ di chuyển bản sao hồ sơ liệt sĩ đối với những trường hợp vợ hoặc chồng liệt sĩ lấy chồng hoặc vợ khác.

Như vậy, việc Sở LĐTBXH tỉnh B yêu cầu phải có bản gốc hồ sơ liệt sĩ là không đúng quy định.

 

Câu 142. Tôi là người thờ cúng liệt sĩ, nay tôi chuyển đến thường trú tại tỉnh khác. Vậy hồ sơ thờ cúng liệt sĩ được di chuyển gồm những loại giấy tờ gì ? Tôi có được trực tiếp nhận hồ sơ để giao cho Sở LĐTBXH nơi tôi chuyển đến không?

Trả lời: Theo hướng dẫn tại Thông tư số 05/2013/BLĐTBXH ngày 15/5/2013 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, hồ sơ di chuyển gồm:

-        Đơn đề nghị di chuyển hồ sơ (theo mẫu)

-        Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú

-        Phiếu báo di chuyển (bản chính)

-        Hồ sơ hưởng chế độ ưu đãi

Hồ sơ di chuyển được chuyển bảo đảm qua đường bưu điện đến Sở LĐTBXH nơi đối tượng cư trú, không giao cho đối tượng trực tiếp nhận

Câu 143. Anh trai tôi hy sinh năm 1972, giấy báo tử trận và danh sách quân nhân hy sinh lưu tại trung đoàn có tên mẹ đẻ của liệt sĩ nhưng đơn vị cấp giấy báo tử chỉ ghi tên mẹ kế (mẹ đẻ của liệt sĩ chết khi liệt sĩ mới 5 tuổi). Nay tôi muốn bổ sung tên mẹ đẻ của liệt sĩ trong hồ sơ liệt sĩ để làm hồ sơ truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng thì phải làm thủ tục như thế nào ?

Trả lời : Về việc sửa đổi thông tin cá nhân trong hồ sơ người có công, Thông tư số 05/2013/BLĐTBXH ngày 15/5/2013 đã hướng dẫn: Cơ quan nào cấp giấy tờ thì cơ quan đó có thẩm quyền sửa đổi.

Vì vậy, đề nghị ông liên hệ với cơ quan đã cấp giấy báo tử để được giải quyết theo thẩm quyền.

Câu 144. Tôi là bộ đội tham gia kháng chiến chống Mỹ, bị thương được Hội đồng giám định y khoa kết luận tỷ lệ suy giảm khả năng lao động do thương tật 23% trước đây tôi đã hưởng chế độ thương tật tại tỉnh A. Năm 1995, tôi vào sinh sống tại tỉnh B nhưng không di chuyển hồ sơ thương binh. Nay tôi muốn  di chuyển hồ sơ đến tỉnh B nhưng Sở LĐTBH tỉnh A trả lời hồ sơ thương binh của tôi hiện thất lạc chưa tìm thấy. Vậy tôi cần liên hệ đến cơ quan nào để được giải quyết.

Trả lời: Ông có đơn gửi Sở LĐTBXH tỉnh A, trình bày rõ các yếu tố trong hồ sơ thương binh để Sở LĐTBXH tỉnh A có trách nhiệm tìm kiếm hồ sơ. Trường hợp Sở LĐTBXH tỉnh A không còn lưu giữ hồ sơ thì Sở phải đề nghị Cục Người có công trích lục hồ sơ thương binh gửi Sở để có căn cứ giải quyết tiếp chế độ cho hoặc di chuyển đến tỉnh B theo nguyện vọng của ông (bà).

Câu 145. Tôi tên là Lê Văn Hào, nguyên quán tỉnh Quảng Ninh, khi đang tại ngũ, tôi đã được xác nhận là thương binh, tỷ lệ 31% và đã hưởng trợ cấp thương tật. Khi phục viên tôi về thường trú tại tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó do hồ sơ thất lạc nên tôi chưa được hưởng chế độ ưu đãi thương binh. Tôi có đơn gửi Cục Người có công và được trả lời hồ sơ thương binh của tôi đã chuyển về Sở LĐTBXH tỉnh Quảng Ninh năm 2000 (nơi nguyên quán). Nay tôi đề nghị được tiếp tục hưởng chế độ ưu đãi thương binh tại tỉnh Vĩnh Phúc có được không?

Trả lời: Ông có đơn gửi Sở LĐTBXH tỉnh Vĩnh Phúc. Sở LĐTBXH tỉnh Vĩnh Phúc có công văn gửi Sở LĐTBXH tỉnh Quảng Ninh đề nghị di chuyển hồ sơ thương binh của ông về tỉnh Vĩnh Phúc để thực hiện chế độ.

Trường hợp Sở LĐTBXH tỉnh Quảng Ninh không tìm thấy hồ sơ thì Sở LĐTBH tỉnh Vĩnh Phúc có công văn đề nghị Cục Người có công trích lục hồ sơ gửi về Sở LĐTBXH tỉnh Vĩnh Phúc để thực hiện chế độ ưu đãi đối với ông.

 Câu 146. Dì ruột tôi là Bà mẹ Việt Nam anh hùng được nhà nước phong tặng năm 2006. Năm 2011, dì tôi qua đời. Hồ sơ Bà mẹ Việt Nam anh hùng của dì tôi được Sở LĐTBH tỉnh A quản lý. Tôi là người thờ cúng dì tôi nên tôi muốn di chuyển hồ sơ Bà mẹ Việt Nam anh hùng của dì tôi đến tỉnh B, nơi tôi đang cư trú có được không ?

Trả lời: Về vấn đề di chuyển hồ sơ, Thông tư số 05/2013/BLĐTBXH ngày 15/5/2013 đã hướng dẫn: Chỉ thực hiện việc di chuyển hồ sơ người có công đối với những trường hợp người có công hoặc thân nhân đang hưởng chế độ trợ cấp ưu đãi hàng tháng hoặc hồ sơ liệt sĩ đối với người thờ cúng.

 Trường hợp ông (bà) đã nêu, do không còn người hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng (Bà mẹ đã chết) nên không thực hiện việc di chuyển hồ sơ.

Câu 147. Tôi bị thương năm 1968, được Đoàn an dưỡng xếp hạng thương tật 3/8. Sau đó tôi về địa phương thì bị mất hết giấy tờ nên không được hưởng chế độ. Nay tôi muốn tìm lại hồ sơ thương binh để hưởng chế độ thì phải làm thủ tục như thế nào ?

Trả lời: Trường hợp của ông đã được cơ quan quân đội xác lập hồ sơ và  giải quyết chế độ nhưng chưa được chuyển sang ngành Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý. Do vậy, đề nghị ông (bà) liên hệ với Cục Chính sách – Tổng cục Chính trị - Bộ Quốc phòng để được hướng dẫn theo thẩm quyền.

Câu 148. Mẹ tôi là người có công giúp đỡ cách mạng trong gia đình được tặng Bằng “có công với nước”, được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng tại tỉnh A, đã chết năm 2012. Tôi là con, muốn di chuyển hồ sơ người có công giúp đỡ cách mạng của mẹ tôi về tỉnh B nơi tôi đang thường trú có được không?

Trả lời: Về vấn đề di chuyển hồ sơ, Thông tư số 05/2013/BLĐTBXH ngày 15/5/2013 đã hướng dẫn: Chỉ thực hiện việc di chuyển hồ sơ người có công đối với những trường hợp người có công hoặc thân nhân đang hưởng chế độ trợ cấp ưu đãi hàng tháng hoặc hồ sơ liệt sĩ đối với người thờ cúng.

 Trường hợp mẹ của ông (bà) đã chết mà ông (bà) không phải là người có công giúp đỡ cách mạng hưởng trợ cấp hàng tháng thì không thực hiện việc di chuyển hồ sơ.

Câu 149. Tôi làm thủ tục di chuyển hồ sơ người hưởng chính sách như thương binh của tôi từ Sở LĐTBXH tỉnh A đến Sở LĐTBXH tỉnh B nơi tôi mới chuyển đến thường trú để tiếp tục hưởng chế độ nhưng Sở LĐTBXH tỉnh B lại không tiếp nhận hồ sơ và thông báo hồ sơ của tôi do Sở LĐTBXH tỉnh A chuyển đến có Quyết định và phiếu lập sổ trợ cấp thương tật lập ban đầu (năm 1978) không ký tên, đóng dấu là chưa hợp lệ, mặc dù các phiếu điều chỉnh trợ cấp sau đó đều được Sở LĐTBXH tỉnh A lập và ký tên, đóng dấu đầy đủ. Vậy tôi xin hỏi bộ hồ sơ của tôi như vậy có hợp lệ không?

Trả lời: Nếu đúng như ông đã trình bày, trong hồ sơ thương tật của ông chỉ thiếu dấu và chữ ký ở Quyết định và Phiếu lập sổ trợ cấp thương tật lập ban đầu mà vẫn còn Giấy chứng nhận bị thương, Biên bản giám định y khoa và các giấy tờ khác theo qui định thì vẫn đủ căn cứ để Sở LĐTBXH tỉnh B tiếp nhận hồ sơ và giải quyết chế độ ưu đãi .

Câu 150. Hồ sơ bệnh binh của tôi được Sở LĐTBXH tỉnh A làm thủ di chuyển đến tỉnh B là nơi tôi mới chuyển đến thường trú để tiếp tục hưởng chế độ nhưng LĐTBXH tỉnh B không tiếp nhận do tên đệm trong hồ sơ bệnh binh của tôi không khớp với hộ khẩu. Xin hỏi tôi phải đến cơ quan nào để đính chính thông tin trong hồ sơ bệnh binh.

Trả lời: Theo hướng dẫn tại Thông tư số 05/2013/BLĐTBXH ngày 15/5/2013 thì mọi vướng mắc về chế độ và hồ sơ phải được giải quyết trước khi di chuyển.

Vì vậy, hồ sơ của ông sẽ được Sở LĐTBXH tỉnh B chuyển lại Sở LĐTBXH tỉnh A để giải quyết theo thẩm quyền.

Đề nghị ông liên hệ với Sở LĐTBXH tỉnh A để được hướng dẫn cụ thể.

Câu 151. Tôi là thương binh đã hưởng chế độ từ năm 1992, hồ sơ hiện đang do Sở LĐTBXH tỉnh A quản lý. Nay tôi thay đổi chỗ ở nên đã đề nghị di chuyển hồ sơ thương binh đến địa phương nơi tôi chuyển đến nhưng nhưng Sở LĐTBXH tỉnh A không tìm thấy hồ sơ đầy đủ theo quy định. Tôi cung cấp được một số giấy tờ liên quan như: Biên bản giám định bệnh tật, thẻ thương binh. Vậy giấy tờ đó có thay thế được hồ sơ thương binh không?

Trả lời: Trường hợp những giấy tờ ông còn lưu giữ được là những giấy tờ mà hồ sơ thương binh còn thiếu thì được bổ sung hoàn thiện. Tuy nhiên nếu hồ sơ thương binh lại thiếu những giấy tờ khác thì những giấy tờ ông cung cấp không thể thay thế được.

Trong trường hợp này, Thông tư số 05/2013/BLĐTBXH ngày 15/5/2013 đã hướng dẫn: Hồ sơ thương binh xác nhận từ ngày 31/12/1994 trở về trước không đầy đủ theo quy định (do thất lạc) thì Sở LĐTBXH nơi đi có công văn gửi Cục Chính sách - Tổng cục Chính trị, Bộ Quốc phòng đề nghị trích lục hồ sơ.

Câu 152Tôi là thương binh, trên giấy chứng nhận thương binh có ghi tỷ lệ thương tật 29%. Nhưng tôi chỉ nhận được trợ cấp hàng tháng tương ứng với tỷ lệ suy giảm khả năng lao động 26%. Vậy cơ quan nào có trách nhiệm kiểm tra và điều chỉnh mức trợ cấp của tôi.

Trả lời: Trong trường hợp ông nêu, cơ quan quản lý hồ sơ và chi trả trợ cấp cho ông có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ thương binh để điều chỉnh theo đúng quy định.

u 153. Tôi là thương binh đã hưởng chế độ từ năm 1991, hồ sơ hiện đang do Sở LĐTBXH tỉnh A quản lý. Nay tôi đề nghị di chuyển hồ sơ thương binh đến địa phương nơi tôi tới cư trú nhưng Sở LĐTBXH tỉnh B không tiếp nhận vì hồ sơ chỉ có bản trích lục hồ sơ thương tật của Cục Chính sách - Tổng cục Chính trị - Bộ Quốc phòng và bản sao phiếu thương tật. Như vậy có đúng không?

Trả lời: Những trường hợp được xác nhận thương binh trước ngày 31/12/1994 thì hồ sơ như ông đã nêu là đủ điều kiện về hồ sơ.

 

X. CẤP BẰNG TỔ QUỐC GHI CÔNG

Câu 154. Chồng tôi có quốc tịch Campuchia, đã hy sinh vì cách mạng được Chính phủ Campuchia tặng Bằng “Tổ quốc ghi công” và Chính phủ Việt Nam đã trao Bằng, gia đình tôi được hưởng mọi quyền lợi chế độ chính trị như liệt sĩ Việt Nam. Nay tôi muốn đề nghị đổi lại Bằng thì Cục Người có công trả lời không thuộc thẩm quyền của Bộ LĐTBXH. Vậy cơ quan nào của Việt Nam sẽ giúp tôi vấn đề này vì tôi không có điều kiện liên hệ với Chính phủ Campuchia.

Trả lời: Những trường hợp liệt sĩ được nhà nước Campuchia tặng Bằng Tổ quốc ghi công, nay Bằng đã cũ, muốn đổi Bằng Tổ quốc ghi công mới thì liên hệ với Bộ Ngoại giao để được hướng dẫn.

Câu 155. Chồng tôi là liệt sĩ đã được cấp Bằng “Tổ quốc ghi công”, hiện bố mẹ chồng tôi ở tỉnh khác và giữ Bằng. Vậy tôi có được đề nghị cấp thêm một Bằng nữa không?

Trả lời: Việc cấp Bằng “Tổ quốc ghi công” thể hiện sự tri ân của Đảng, Nhà nước đối với những người đã hy sinh vì Tổ quốc và là căn cứ để thực hiện các chế độ, chính sách ưu đãi. Vì vậy, Bằng “Tổ quốc ghi công” chỉ cấp một bản cho đại diện thân nhân hoặc người thờ cúng liệt sĩ.

 

Câu 156. Chồng tôi là liệt sĩ, đã được cấp Bằng “Tổ quốc ghi công” nhưng do chiến tranh bị thất lạc, nay tôi muốn xin cấp lại có được không?

Trả lời: Trường hợp này được cấp lại Bằng “Tổ quốc ghi công”. Đề nghị bà có đơn gửi đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đang thường trú để hướng dẫn.

Câu 157. Em tôi là liệt sĩ, đã được Thủ tướng Chính phủ cấp Bằng “Tổ quốc ghi công” mọi thông tin trong Bằng đều trùng khớp với hồ sơ liệt sĩ, tuy nhiên hiện nay tỉnh Hà Tây của tôi đã sát nhập vào là thành phố Hà Nội. Tôi muốn được đổi bằng và ghi theo địa danh hành chính hiện nay có được không?

Trả lời: Trường hợp này khi đổi Bằng “Tổ quốc ghi công” ghi theo địa danh hành chính hiện tại.

Câu 158. Chồng tôi là liệt sĩ đã được Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký tặng Bằng “Tổ quốc ghi công”. Nay tôi biết chủ trương của Chính phủ có cấp đổi lại Bằng nhưng gia đình muốn có chữ ký đóng dấu của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như cũ có được không?

Trả lời: Chữ ký trên Bằng “Tổ quốc ghi công” là của Thủ tướng Chính phủ đương nhiệm tại thời điểm cấp lại Bằng.

Câu 159. Sở LĐTBXH tỉnh A hỏi: Theo quy định trước đây thủ tục cấp lại  Bằng Tổ quốc ghi công do Sở in viết, Ủy ban nhân dân tỉnh có tờ trình Thủ tướng Chính phủ đề nghị cấp lại Bằng gửi qua Bộ LĐTBXH (Cục Người có công). Nay thủ tục này có gì mới?

Trả lời:  Về thủ tục đổi hoặc cấp lại Bằng Tổ quốc ghi công theo hướng dẫn tại Thông tư số 05/2013/BLĐTBXH ngày 15/5/2013 như sau :

Sở LĐTBXH trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận danh sách đề nghị cấp lại Bằng Tổ quốc ghi công do Phòng LĐTBXH cấp huyện chuyển đến, có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu hồ sơ liệt sĩ, lập danh sách liệt sĩ có đầy đủ thông tin theo mẫu, gửi Bộ LĐTBXH (Cục Người có công) kèm theo công văn đề nghị.

Cục Người có công có trách nhiệm in Bằng Tổ quốc ghi công, gửi đến Văn phòng Chính phủ trình Thủ tướng Chính phủ.

Sở LĐTBXH có trách nhiệm tiếp nhận Bằng Tổ quốc ghi công từ Cục Người có công để chuyển đến gia đình liệt sĩ.

Tin khác: